Quay lại

Vai trò của Đại tướng Lê Đức Anh trong Chi đội 1

Chi đội 1 - Giải phóng quân Nam bộ của tỉnh Thủ Dầu Một là tổ chức vũ trang cách mạng đầu tiên ở miền Đông Nam bộ do Đảng tổ chức xây dựng sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, là đơn vị vũ trang tập trung được thành lập sớm nhất ở Nam bộ, gắn liền với tên tuổi của Đại tướng Lê Đức Anh.

Gặp người chiến sĩ Chi đội 1 ngày ấy

Chúng tôi trở lại nhà đại tá Hồ Văn Nam, nguyên Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Sông Bé (nay là Bình Dương) ở phường Chánh Mỹ (TP.Thủ Dầu Một) để tìm hiểu thông tin về Đại tướng Lê Đức Anh. Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, đại tá Hồ Văn Nam đã gia nhập lực lượng Thanh niên Tiền phong ở TX.Thủ Dầu Một. Ngày 25-8-1945, ông cũng tham gia lực lượng xuống đường giành chính quyền, giải phóng Thủ Dầu Một. Vài tháng sau Cách mạng Tháng Tám, ông được đưa về địa phương, rồi tham gia làm liên lạc ở xã. Tuy nhiên, với bản lĩnh của một thanh niên muốn cống hiến, ông đăng ký tham gia bộ đội. Đến năm 1947, ông chính thức nhập ngũ; tham gia vào Trung đội 2, Đại đội 2 thuộc Chi đội 1.

Không còn khỏe và nói được nhiều như những lần trước, nhưng qua những tài liệu cung cấp từ đại tá Hồ Văn Nam, Chi đội 1 - Giải phóng quân Nam bộ chính thức được thành lập ngày 25-11-1945 tại xã An Sơn, quận Lái Thiêu (nay là TX.Thuận An). Chi đội 1 - Giải phóng quân Nam bộ của tỉnh Thủ Dầu Một là tổ chức vũ trang cách mạng đầu tiên ở miền Đông Nam bộ do Đảng tổ chức xây dựng sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, là đơn vị vũ trang tập trung được thành lập sớm nhất ở Nam bộ.

Chi đội 1 năm 1947. Ảnh: T.L

Chi đội 1 ra đời có ý nghĩa to lớn, đánh dấu bước trưởng thành quan trọng của các đơn vị vũ trang được tổ chức chặt chẽ, thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chi đội 1 không những đáp ứng nhiệm vụ chiến đấu tại địa phương mà còn thúc đẩy, hỗ trợ cho lực lượng dân quân, du kích ngày càng phát triển, tạo thành sức mạnh tổng hợp của lực lượng ba thứ quân, đánh địch trên khắp các địa bàn tỉnh. Bản thân Chi đội 1 là hình ảnh thu nhỏ của khối đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, đủ cả Nam - Trung - Bắc, các thành phần từ công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên, viên chức, người Việt, người Hoa… Đặc biệt, có một số lính Đức (trong quân đội viễn chinh Pháp), lính Nhật tự giác xin gia nhập quân đội ta trong những năm đầu và họ đã đóng góp công lao cho cuộc kháng chiến. Lúc bấy giờ, Chi đội 1 được biên chế thành 3 đại đội. Đại đội 1 phụ trách vùng Lái Thiêu; Đại đội 2 phụ trách vùng Châu Thành và TX.Thủ Dầu Một; Đại đội 3 phụ trách Bến Cát và Hớn Quản. Đại tướng Lê Đức Anh khi đó làm Chính trị viên Đại đội 3. Đến cuối năm 1947, Chi đội 1 đã trở thành một chi đội mạnh về cả chính trị - tư tưởng, lực lượng, vũ khí, cũng như kinh nghiệm và khả năng chiến đấu. Quân số Chi đội 1 đã lên tới 2.000 người, trong đó có 142 đảng viên và 1.350 súng trường, 28 tiểu liên, 18 trung liên, 10 đại liên. Lúc này, Đại tướng Lê Đức Anh từ Chính trị viên Đại đội 3 về làm Chính trị viên Chi đội 1.

 Lúc bấy giờ, Chi đội 1 được biên chế thành 3 đại đội. Đại đội 1 phụ trách vùng Lái Thiêu; Đại đội 2 phụ trách vùng Châu Thành và TX.Thủ Dầu Một; Đại đội 3 phụ trách Bến Cát và Hớn Quản. Đại tướng Lê Đức Anh khi đó làm Chính trị viên Đại đội 3. Đến cuối năm 1947, Chi đội 1 đã trở thành một chi đội mạnh về cả chính trị - tư tưởng, lực lượng, vũ khí, cũng như kinh nghiệm và khả năng chiến đấu. Quân số Chi đội 1 đã lên tới 2.000 người, trong đó có 142 đảng viên và 1.350 súng trường, 28 tiểu liên, 18 trung liên, 10 đại liên. Lúc này, Đại tướng Lê Đức Anh từ Chính trị viên đại đội 3 về làm Chính trị viên Chi đội 1.

Qua lời kể của đại tá Hồ Văn Nam, chúng tôi tìm về An Sơn (xã An Sơn, TX.Thuận An), nơi gắn liền với cái tên Chi đội 1 và Đại tướng Lê Đức Anh. Theo những người “gạo cội” của vùng đất này thì đây là hậu phương trực tiếp của lực lượng vũ trang tỉnh bởi có địa bàn mang tính chiến lược vì tiếp giáp với Sài Gòn, sát nách với mặt trận cầu Bến Phân và ở đâu trên vùng đất này cũng hừng hực khí thế chuẩn bị kháng chiến và phục vụ chiến đấu hết lòng của nhân dân. An Sơn chính là căn cứ kháng chiến đầu tiên của các tỉnh và là một trong những căn cứ đứng chân của lực lượng kháng chiến miền Đông Nam bộ trong những ngày đầu Nam bộ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Vùng quê An Sơn vốn hiền hòa, giống như một cù lao nhỏ, xanh thẫm màu xanh của vườn cây ăn trái và được bao bọc bởi sông rạch, cùng nhiều kênh mương len lỏi khắp ruộng vườn, xóm ấp. Nhưng bên trong sự hiền hòa, yên ả đó, vùng đất An Sơn rất giàu truyền thống cách mạng, người dân luôn hừng hực khí thế, giàu ý chí chống giặc ngoại xâm. Với địa thế sông rạch chằng chịt, vườn cây nối tiếp, lại giáp với Sài Gòn nên An Sơn không chỉ là nơi sớm trở thành căn cứ kháng chiến của huyện, tỉnh mà còn là nơi trú ém quân tốt cho các đơn vị chủ lực trước và sau mỗi đợt tiến đánh căn cứ của địch ở Sài Gòn. Người dân An Sơn lại rất giàu ý chí chống giặc ngoại xâm. Năm 1936, Chi bộ Đảng Cộng sản An Sơn đã ra đời, nhiều quần chúng cốt cán, ưu tú trong phong trào đấu tranh được kết nạp vào Đảng.

Góp phần làm nên chiến công hiển hách

 Đại tá Hồ Văn Nam, chiến sĩ Chi đội 1, nguyên Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Sông Bé, tự hào cho biết Chi đội 1 đã có nhiều chiến công hiển hách, làm nức lòng người dân và cán bộ, chiến sĩ trong chi đội; trong đó phải kể đến vai trò của Đại tướng Lê Đức Anh, Chính trị viên Chi đội 1. Một trong những trận đánh tiêu biểu của Chi đội 1 trong những ngày đầu mới thành lập là phá tan “Chiến khu ma” của Chính phủ “Nam kỳ tự trị” Lê Văn Hoạch tại Bình Quới Tây tháng 12-1947, một xã nằm ở ven đô Sài Gòn - Gia Định (khu Thanh Đa ngày nay).

Đại tá Hồ Văn Nam, chiến sĩ Chi đội 1, nguyên Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Sông Bé, tự hào cho biết Chi đội 1 đã có nhiều chiến công hiển hách, làm nức lòng người dân và cán bộ, chiến sĩ trong chi đội; trong đó phải kể đến vai trò của Đại tướng Lê Đức Anh, Chính trị viên Chi đội 1. Một trong những trận đánh tiêu biểu của Chi đội 1 trong những ngày đầu mới thành lập là phá tan “Chiến khu ma” của Chính phủ “Nam kỳ tự trị” Lê Văn Hoạch tại Bình Quới Tây tháng 12-1947, một xã nằm ở ven đô Sài Gòn - Gia Định (khu Thanh Đa ngày nay). Bình Quới Tây là một ốc đảo hết sức an toàn của địch bởi ngoài đánh vào nhất thiết phải vượt qua những khoảng sân rộng, hành quân bộ thì chỉ vận động theo một con đường có chiếc cầu sắt đã được chốt chặn. Mặt khác, khi quân vào cũng như quay ra phải vượt qua hơn chục cây số dày đặc đồn bót. Ở đây, một đại đội Cao Đài được đưa về trú đóng với 5 khẩu súng máy, 1 khẩu cối 60 ly, hàng trăm súng trường và tiểu liên loại tốt.

Để đánh trận này, Chi đội 1 đã tiến hành cài người vào trong lòng địch. Sau mấy đợt cài người, ta đã đưa vào Bình Quới Tây 1 đại đội gồm du kích, bộ đội, biệt động. Trong đó có hơn 20 đảng viên, cán bộ chỉ huy, trinh sát giao liên và đầy đủ các bộ phận phục vụ khác. Thời cơ đến, trận chiến nổ ra, thay vì diễn ra 30 phút như dự kiến thì chỉ không đầy 10 phút, cán bộ chiến sĩ Chi đội 1 đã làm chủ chiến trường. Số vũ khí, quân trang, quân dụng ta thu được trong trận này đủ trang bị cho một tiểu đoàn. Đặc biệt, trận chiến kết thúc, cán bộ, chiến sĩ của ta không mất một người.

Tại hội nghị Xứ ủy mở rộng, đồng chí Lê Đức Anh, Chính trị viên Chi đội 1 báo cáo về chiến thắng Bình Quới Tây, cả hội nghị và đồng chí Lê Duẩn, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, Bí thư Xứ ủy nhiệt liệt khen ngợi. Với những chiến công hiển hách, Chi đội 1 đã đánh dấu thời kỳ mới về sự hình thành lực lượng vũ trang tỉnh, lực lượng nòng cốt trong phong trào toàn dân đánh giặc, giải phóng quê hương, bảo vệ Tổ quốc. Kế thừa truyền thống tự hào, dù trong điều kiện nào lực lượng vũ trang tỉnh hôm nay cũng luôn hoàn thành sứ mệnh lịch sử, góp phần vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước…

 Chi đội 1 ra đời có ý nghĩa to lớn, đánh dấu bước trưởng thành quan trọng của các đơn vị vũ trang được tổ chức chặt chẽ, thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chi đội 1 không những đáp ứng nhiệm vụ chiến đấu tại địa phương mà còn thúc đẩy, hỗ trợ cho lực lượng dân quân, du kích ngày càng phát triển, tạo thành sức mạnh tổng hợp của lực lượng ba thứ quân, đánh địch trên khắp các địa bàn tỉnh.

 

TIỂU LIÊN