Nhớ một lần tôi đi theo ông xuống thăm một đơn vị. Hôm đó anh em nấu nướng cơm canh thế nào mà mặn quá. Vậy mà khi ăn, không thấy ông kêu mặn. Đến lúc lên máy bay tôi hỏi: Thế nào anh Sáu, hôm nay cơm canh tôi nghĩ hơi mặn? Ông nói: Ừ, mình cũng thấy hơi mặn! Biết là mặn nhưng không bao giờ ông nói, ngại anh em phục vụ suy nghĩ lo lắng. Cho nên với các bậc lão thành này, mình học khó lắm!
Khi ăn uống, sinh hoạt đời thường, ông giản dị và rất bao dung đối với cấp dưới. Nhưng khi làm việc thì ông tỉnh lắm, nghiêm lắm.
Một lần chuẩn bị cho ông đi làm việc với Hun Xen, tôi phải sang nói trước với ông Hun Xen. Hun Xen biết tính ông Sáu rồi, tức là ông sẽ bồi dưỡng tại chức về đường lối, cách đánh như thế nào. Cơ bản là ông rất tôn trọng bạn nên phái tôi sang nói trước với ông Hun Xen. Trước đó, khi chuẩn bị, ông đóng cửa một tuần. Khi sang, hai ông nói chuyện với nhau nhìn rất thân tình. Khi trở về ông bảo Hun Xen trẻ mà thông minh lắm.

Ông là một con người rất mẫn tuệ và kín đáo. Đối với tôi, làm lính của ông từ hồi đánh Mỹ tới thời gian 5 năm ở Campuchia, tôi học hỏi được nhiều. Sau này, khi về làm Hiệu trưởng Trường sĩ quan Lục quân 2, tôi đã vận dụng những cái mình học được ở ông và thấy rất bổ ích.
Sau Đại hội Đảng VI, ông nạt tôi: Cậu phải đi học! Tôi đọc được ý định của ông muốn bồi dưỡng mình, nhưng tôi bảo tôi không muốn đi vì giờ tôi có tuổi rồi, với lại lúc đó điểm mặt trên cơ quan Bộ Quốc phòng, tôi thấy còn nhiều nhân tài lắm, với tuổi mình, tôi ý thức được mình, nên xin ông bố trí một vị trí nào đó phù hợp. Cuối cùng ông điều tôi về gần nhà, cho làm Hiệu trưởng Trường sĩ quan Lục quân 2. Trước khi tôi đi, ông dặn: Về đó chú ý dạy và luyện tập cho anh em học viên trẻ nắm chắc và vận dụng tốt các nội dung chiến thuật, điều này rất quan trọng đối với người chỉ huy cấp cơ sở. Mấy năm sau, khi ông vào thăm nhà trường, tôi rất tự tin khi báo cáo với ông rằng tôi đã thực hiện tốt những lời chỉ bảo của ông.
Việc cấp đất, cấp nhà để ổn định hậu phương quân đội một cách cơ bản, cải thiện một cách rất đáng kể – có thể nói là chưa từng có – đối với những người hưởng lương trong quân đội là do ông Lê Đức Anh đề xuất, được Bộ Chính trị và Trung ương nhất trí, đồng tình ủng hộ. Ông bảo mỗi đơn vị được trích một phần quỹ đất quốc phòng trong khuôn khổ cho phép; từ người hưởng lương thấp nhất đến anh to nhất, cứ chiểu theo tiêu chuẩn quy định mà cấp. Bây giờ có hàng vạn người biết ơn ông lắm!
Thời ông làm Tư lệnh đi kiểm tra các mặt trận. Ông nói là có thể mình về sớm cũng có khả năng về muộn. Trước khi về, ông nhắc nhở phải tiết kiệm đạn dược. Ba nhược điểm của phân đội là tiêu thụ đạn nhiều, ít hiệu quả, hy sinh nhiều.
Vấn đề học thuật, cần phải nói những điểm mình thấy hay. Ví dụ như ông Lê Đức Anh rất táo bạo khi cho quân rút xuống, giao lại việc bảo vệ đường biên giới phía Bắc cho bộ đội Biên phòng, đó là sự táo bạo. Nhưng cũng có cái không táo bạo là ông đưa dân lùi xuống, thực tế lúc đó mình chưa nghĩ đến; bây giờ phía bên Trung Quốc họ đưa dân lên lập làng, xây đô thị sát đường biên, mình cần ứng phó thì không có “hàng rào chính trị” đó.
Đến bây giờ vẫn có những người có ý kiến về “Công trình phòng thủ biên giới”, mật danh lúc đó là K5. Họ vẫn phê phán ông Lê Đức Anh về cái K5. Lúc đó tôi là Trưởng ban K5. Tôi bảo lúc đó không làm K5 bọn Pôn Pốt nó tràn sang thì ta rất khó khăn; còn bạn lúc đó chưa củng cố được quân chủ lực. Bạn cũng đề nghị phải ngăn chặn các cửa khẩu mà quân Pôn Pốt vẫn qua lại. Mình cũng chiếm các cao điểm có giá trị chiến thuật, khống chế được …
Tôi là phái viên đặc biệt để theo dõi cánh Khu 5 đánh Ba Biên, đánh trận quyết định xong thì ông Đoàn Khuê và ông Anh đi Liên Xô chữa mắt về, ông lên kiểm tra và thông qua “Quyết tâm chiến đấu” cuối cùng của Quân khu 5. Trận Ba Biên ta thắng lợi giòn giã, đơn vị đã bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí nhất kể từ trước tới nay.
Về chiến lược, chiến thuật ông đều giỏi, ngoại giao ông cũng giỏi. Chỗ nào mà nói sơ hở là ông biết liền.
Trận Phước Long, ông giao cho tôi phải đánh Đồng Xoài mới đánh Phước Long. Ông bảo bây giờ cậu phải thông cảm, tôi còn chờ ý kiến Bộ, chứ không có quyền quyết định. Ông nói đây là lệnh của Bộ, phải đánh Bù Đăng, Bà Rá trước, được rồi mới đánh Đồng Xoài lên Phước Long. Lúc đánh Phước Long, ông Trà ra ngoài Bắc họp, ông Anh ở nhà chỉ huy. Lúc đầu đồng chí Lê Duẩn không cho dòng xe tăng và pháo lớn để đánh Đồng Xoài và Phước Long, vì sợ sẽ giống như trận đánh Rạch Bắp, Thủ Dầu Một; hơn nữa ông Duẩn muốn giữ gìn xe tăng và pháo lớn để đánh tổng tiến công vào Sài Gòn. Nhưng rồi ông Anh đã chỉ huy dùng pháo, đặc công kết hợp với xung lực của bộ binh đánh chi khu Bù Đăng. Giải quyết xong Bù Đăng rồi tiến công Đồng Xoài. Sau đó, đồng chí Lê Duẩn đồng ý cho sử dụng xe tăng và pháo 130 ly để giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long. Điều này nói lên là không chỉ có nghệ thuật chiến dịch, mà cả kỹ thuật, chiến thuật ông Lê Đức Anh cũng rất giỏi.
Đánh xong ở Campuchia, năm 1979, tôi được điều ngay ra biên giới phía Bắc ngoài đó. Yên ổn rồi lại nhận nhiệm vụ xây dựng bộ binh cơ giới năm năm nữa. Xong việc, tôi mới về lên gặp ông Anh. Ông đề xuất tôi làm Tham mưu phó 1. Tôi mới hỏi làm Tham mưu phó 1 là gì hả anh Sáu? Ông ấy bảo, Tham mưu phó 1 là Tham mưu phó 1! Tôi mới nói rằng, tôi 60 tuổi rồi anh còn đưa tôi ra làm Tổng tham mưu phó nữa thì tôi ra được vài ngày không làm gì được đâu. Ông ấy hỏi cậu muốn về đâu, tôi trả lời về đâu tuỳ ở anh. Sau đó ông bảo, nhân dịp Vịnh nó ra Bắc, cậu về làm Hiệu trưởng trường Lục quân 2. Nói xong tôi bắt tay ngay và xin chào anh Sáu vì tôi sợ ông đổi ý. Nhưng khi tôi còn đang xuống cầu thang, ở trên ông nói vọng xuống – Đây là tạm thời thôi nhá, không phải chính thức đâu nhá! Tôi biết còn điều nữa, ông định đưa tôi ra làm Tư lệnh Quân khu 2…
Ở với ông, chuyện lai rai tôi ghi hết làm kỉ niệm. Vị chỉ huy của mình ở trong này rất được lính yêu mến vì ông là con người rất thẳng thắn. Trước khi về trường Lục quân, tôi hỏi ông, giờ anh cho tôi về phụ trách trường Lục quân, anh có dặn gì không? Ông bảo có mấy việc. Việc thứ nhất phải chọn đầu vào. Thứ hai, cậu đã thừa biết, đánh ở Campuchia có mấy vấn đề: Thương vong cao nhất, hiệu suất chiến đấu thấp nhất, tiêu thụ đạn dược nhiều nhất; mà điều đó có trong túi cậu rồi đó, cậu về vận dụng. Chất lượng chiến đấu thấp là do ai – là do phân đội. Mà lâu nay mình không chú ý đến phân đội, mình cứ luôn miệng “chính quy” rồi “đánh hợp đồng binh chủng”. Đánh gì thì đánh, phân đội không làm được thì cũng thua. Ai xung phong vào đồn, ai thu vũ khí, ai bắt tù binh? Đó, chỉ có phân đội vào. Cái đó ông nói mình rút ra từ hai cuộc kháng chiến. Cái thứ hai ông nói – Phải chú ý chiến thuật. Bây giờ cậu phải làm cái đồn ở dưới Lam Sơn. Có cái đồn rồi, thì cho bắn thí điểm xem sập được bao nhiêu, lúc đó chưa có đối tượng là địch mà chỉ có quân xanh, nhưng quân xanh bắn lẹt đẹt ăn thua gì.
Ở với ông rất thích, học tập được ông nhiều. Có lúc ông nóng lên, ông nạt thì tôi nghe. Sau lần ông xuống thăm nhà trường thì có cái ảnh in trong cuốn lịch sử truyền thống của trường, ảnh ông chụp chung với Ban giám hiệu. Hồi đó duy nhất phòng của tôi – phòng của Hiệu trưởng – có máy lạnh, nên mời ông vào đó nghỉ; hết giờ nghỉ trưa thì ông bảo cái phòng này nóng quá. Tôi ngó lên tường mới biết tôi đã bật nhầm nút điều khiển sang nấc nóng; vì hàng ngày bật hay tắt do cậu công vụ quen làm, tôi có bật bao giờ đâu. Lúc đó tôi đành bảo: “Xin lỗi anh! Lần sau anh đến là mát”.
