CHỦ TỊCH NƯỚC – ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH NIỀM TỰ HÀO QUÊ HƯƠNG THỪA THIÊN HUẾ
Quê hương Thừa Thiên Huế tự hào là nơi Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh sinh ra, lớn lên và tham gia hoạt động cách mạng – nơi đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm về gia đình, tuổi thơ, quá trình giác ngộ, tham gia hoạt động yêu nước, cùng những tình cảm quý mến mà đồng chí Lê Đức Anh đã dành cho quê hương Thừa Thiên Huế…
Sớm kế thừa, hấp thụ truyền thống của quê hương, gia đình, cùng sự giác ngộ của bản thân, người con ưu tú của quê hương làng Bàn Môn (xứ Truồi), xã Lộc An, huyện Phú Lộc sớm trưởng thành và cống hiến cả nước đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh đã trải qua nhiều vị trí công tác trên nhiều chiến trường, ở nhiều địa phương, đơn vị khác nhau và đã để lại trong lòng Nhân dân, Quân đội nhiều tình cảm tốt đẹp.
Sự trưởng thành và những đóng góp to lớn của Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh đối với sự nghiệp của Đảng và cách mạng Việt Nam là niềm vinh dự, tự hào đối với Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân Thừa Thiên Huế.
Nhằm ghi nhớ, tôn vinh công lao, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh, người con ưu tú của quê hương Thừa Thiên Huế, Nhà xuất bản Thuận Hóa biên soạn cuốn sách Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh niềm tự hào quê hương Thừa Thiên Huế để giới thiệu đến với bạn đọc gần xa hiểu thêm về quê hương, gia đình, dòng tộc, con người, sự nghiệp và những tình cảm quý báu mà Chủ tịch nước – Đại tướng đã dành cho quê hương Thừa Thiên Huế nhân kỷ niệm 03 năm ngày đi xa của Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh kính mến!
Cuốn sách được tập hợp từ tham luận của các đồng chí lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế được công bố trong hội thảo khoa học “ Đồng chí Lê Đức Anh với cách mạng Việt Nam và quê hương Thừa Thiên Huế” nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh; cùng các hồi ức, bài viết kỷ niệm về Chủ tịch nước kính yêu của các đồng chí nguyên lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế được đăng tải trên báo Thừa Thiên Huế; nhiều hình ảnh tư liệu quý về con người – sự nghiệp và Lễ tang của Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh của nhiều phóng viên được đăng tải trên báo chí Trung ương và đại phương…đã khẳng định công lao và những đóng góp to lớn của đồng chí – người con ưu tú của quê hương Thừa Thiên Huế. Nhà xuất bản Thuận Hóa xin phép được tuyển chọn, sử dụng trong cuốn sách này và xin gửi lời tri ân đến quý báo và tác giả.
Đặc biệt, Nhà xuất bản Thuận Hóa chân thành cảm ơn đến gia đình, dòng tộc Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh, lãnh đạo địa phương xã Lộc An, huyện Phú Lộc, xã Phú Gia, huyện phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế; cùng các cá nhân, tổ chức đã ủng hộ, đóng góp công sức, tư liệu, hình ảnh có giá trị để cuốn sách kịp ra mắt bạn đọc nhân kỷ niệm 03 năm ngày Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh đi xa (22/4/2019 – 22/4/2022)
Trong quá trình biên soạn, tập hợp để hoàn thiện cuốn sách, chắc không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý của bạn đọc.
NHÀ XUẤT BẢN THUẬN HÓA
Đồng chí Lê Đức Anh (bí danh Nguyễn Phú Hòa; Sáu Nam), sinh ngày 01/12/192; quê quán: Xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế; thường trú tại số nhà 5A Hoàng Diệu, phường Quán Thánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Tham gia hoạt động cách mạng năm 1973; vào Đảng tháng 5-1938.
QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC
Năm 1937, đồng chí tham gia phong trào dân chủ ở Phú Vang (tỉnh Thừa Thiên Huế); tháng 5/1938, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).
Năm 1939 – 1943, địch khủng bố mạnh, mất liên lạc, đồng chí vào Hội An, Đà Lạt, Lộc Ninh, Thủ Dầu Một tham gia hoạt động trong các hội Ái hữu.
Tháng 3/1944, đồng chí bắt liên lạc được với tổ chức và được giao nhiệm vụ hoạt động trong các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh, Quảng Lợi, Xa Can, Xa Cát.
Đầu năm 1945, đồng chí được giao nhiệm vụ tổ chức lực lượng trung kiên trong cách nghiệp đoàn, chuẩn bị đấu tranh võ trang.
Tháng 8/1945, đồng chí được phân công phụ trách chỉ huy khởi nghĩa giành chính quyền ở các đồn điền cao su và hai huyện Hớn Quản, Bù Đốp, tỉnh Bình Phước. Thời gian này, đồng chí tham gia quân đội, chỉ huy giành chính quyền ở Lộc Ninh, tham gia Tỉnh ủy lâm thời, phụ trách quân sự phía Bắc tỉnh Thủ Dầu Một.
Tháng 11/1946 đến tháng 10/1948, đồng chí làm Chính trị viên Chi đội 1 (sau là Trung đoàn 301), Trung đoàn Ủy viên, Tỉnh ủy viên Thủ Dầu Một.
Tháng 10/1948 đến tháng 12/1948, đồng chí làm Tham mưu trưởng Khu 7, Quân khu Ủy viên.
Tháng 1/1949 đến tháng 10/1949, đồng chí làm Tham mưu trưởng Khu 8, Quân khu Ủy viên.
Tháng 11/1949 đến tháng 5/1950, đồng chí làm Tham mưu trưởng Quân khu Sài Gòn – Chợ lớn, Quân khu Ủy viên.
Tháng 6/1950 đến tháng 12/1950, đồng chí làm Tham mưu trưởng Khu 7
Tháng 01/1951, đồng chí làm Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Nam Bộ.
Tháng 5/1955, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Phó Cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu Quân Đội Nhân dân Việt Nam.
Tháng 10/1957, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Cục phó thứ nhất Cục Quân lực, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Tháng 12/1958, đồng chí được Đảng, Nhà nước phong quân hàm Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Tháng 8/1961, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Cục trưởng Cục Quân lực, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Tháng 8/1963, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Tháng 8/1965, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh miền Nam, Ủy viên Quân ủy Miền.
Năm 1969, đồng chí giữ chức Tư lệnh Khu 9, Phó Bí thư Khu ủy.
Năm 1974, đồng chí giữ chức Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh miền Nam, Ủy viên Quân ủy Miền. Đồng chí được Đảng, Nhà nước thăng quân hàm từ Đại tá lên Trung tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam (tháng 4/1974).
Năm 1975, đồng chí giữ chức Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân Tây Nam.
Tháng 5/1976, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Quân khu 9, Bí thư Quân khu ủy.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (tháng 12/1976), đồng chí được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng
Tháng 6/1978, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương.
Tháng 01/1981, đồng chí được Đảng, Nhà nước thăng quân hàm Thượng tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Tháng 6/1981, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Cam-pu-chia.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V ( tháng 3/1982), đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị.
Tháng 12/1984, đồng chí được Đảng, Nhà nước thăng quân hàm Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị, giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Tháng 2/1987, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII ( tháng 6/1991), đồng chí tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng.
Tháng 9/1992, tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa IX, đồng chí được bầu giữ chức Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (tháng 6/1996), đồng chí tiếp tục được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị, làm Thường vụ Bộ Chính trị.
Tháng 12/1997, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư khóa VIII, đồng chí xin thôi tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng, thôi giữ chức Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng suy tôn làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng đến tháng 4/2001.
Đồng chí là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa IV, V, VI, VII, VIII; Bí thư Trung ương Đảng khóa VII; Ủy viên Bộ Chính trị các khóa V, VI, VII, VIII; Thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII; Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ tháng 9/1992 đến tháng 12/1997); Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng (từ năm 1997 đến tháng 4/2001); Đại biểu Quốc hội các khóa VI, VIII, IX.
Do có nhiều công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc, đồng chí được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng; Huân chương Quân công hạng Nhất; Huân chương Chiến công hạng Nhất; Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương, cao quý khác của Việt Nam và của bạn bè quốc tế.



Lê Trường Lưu(1)
1.Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh – người chiến sỹ Cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo tài năng đã cống hiến trọn đời vì sự nghiệp cách mạng
Đồng chí Lê Đức Anh (1920 -2019), sinh ra trong một gia đình, dòng họ có truyền thống hiếu học, có nhiều đời làm quan dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, ở xã Lộc An, huyện Phú Lộc – một làng quê có truyền thống văn hóa và lịch sử lâu đời ở Huế. Thân phụ từng là sỹ phu tham gia phong trào Cần vương chống Pháp. Sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất, nhà tan, phải chứng kiến và thấu hiểu sự nghèo đói, lam lũ của người dân, gia đình dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, phong kiến; cùng với đó, ảnh hưởng từ các phong trào đấu tranh cách mạng trên quê hương Phú Lộc của các thế hệ tiền bối, của các bậc cha chú, đồng chí Lê Đức Anh đã sớm giác ngộ cách mạng và tích cực tham gia các phong trào đấu tranh yêu nước.
Năm 1938, sau quá trình tham gia phong trào đấu tranh dân chủ ở Phú Vang, đồng chí Lê Đức Anh được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1939, trước sự khủng bố ráo riết của kẻ thù, hệ thống cơ sở đảng ở Huế bị tổn thất hết sức nặng nề, để bảo toàn lực lượng theo chủ trương của tổ chức, đồng chí đã bí mật rời quê hương vào Đà Lạt hoạt động và tham gia xây dựng tổ chức cách mạng.Thời kỳ từ năm 1939 – 1944, đồng chí hoạt động trong các hội Ái hữu ở Đà Lạt, Lộc Ninh, Thủ Dầu Một và các nghiệp đoàn cao su Lộc Ninh, Quản Lợi, Xa Cam, Xa Cát, Xa Trạch.Trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, với vai trò là Ủy viên Ban cán sự Đảng tỉnh Thủ Dầu Một, kiêm Bí thư Chi bộ Lộc Ninh, đồng chí Lê Đức Anh đã lãnh đạo công nhân, nhân dân, và đồng bào các dân tộc thiểu số giành chính quyền thắng lợi ở các quận Hớn Quản, Bù Đốp và chi viện cho Thủ Dầu Một, đóng góp quan trọng nào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám ở Thủ Dầu Một.Sau Cách mạng tháng Tám, đồng chí Lê Đức Anh tham gia quân đội và bắt đầu gắn bó với cuộc đời binh nghiệp. Cuộc đời gắn với nhiều chiến trường từ Nam ra Bắc, đồng chí được tin tưởng giao những trọng trách quan trọng: Tham mưu trưởng Khu 7, Khu 8, Quân khu Sài Gòn – Chợ Lớn, Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Nam Bộ; từ năm 1955 – 1963, đồng chí là Phó Cục trưởng Cục Tác chiến, rồi Cục phó, Cục trưởng Cục Quân lực – Bộ Tổng Tham mưu và trở thành Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam; từ 1964, đồng chí lần lượt đảm nhiệm các chức vụ: Tham mưu trưởng, Tư lệnh Khu 9, Phó Bí thư Khu ủy, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Miền, Ủy viên Quân ủy Miền.Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đồng chí được phân công chỉ huy bộ đội ở hướng Tây Sài Gòn, từ Long An đánh thẳng vào Tổng nha Cảnh sát Đô thành. Quá trình diễn ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, trên cơ sở phân tích, đánh giá thấu đáo tình hình, đồng chí đã có những đề xuất quan trọng về chuyển hướng tiến công. Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1986 đã có ý nghĩa quan trọng, làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh.Sau khi Hiệp định Paris được ký kết (27/01/1973), chính quyền và quân đội Sài Gòn ngang nhiên vi phạm Hiệp định, ráo riết thực hiện kế hoạch “Tràn ngập lãnh thổ”, đẩy mạnh bình định lấn chiếm. Trước tình hình đó, mặc dù chưa có chủ trương của trên về tiến công quân sự, song dưới sự chỉ đạo của Khu ủy, sự chỉ đạo trực tiếp, quyết đoán và dám chịu trách nhiệm của Tư lệnh Lê Đức Anh, quân và dân Quân khu 9 đã chiến đấu ngoan cường, bẻ gãy các cuộc hành quân lấn chiếm quy mô cấp quân đoàn của địch đánh vào Chương Thiện, lần lượt đánh bại 75 tiều đoàn cùng với kế hoạch “Tràn ngập lãnh thổ” của chúng.Với những thành tích trong chỉ huy chống địch lấn chiếm, phá hoại Hiệp định Paris năm 1973 trên địa bàn Quân khu 9 và những thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng chí Lê Đức Anh được Chủ tịch nước ký Quyết định phong quân hàm vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng.Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đồng chí Lê Đức Anh đảm nhiệm cương vị Phó Tư lệnh chiến dịch, kiêm Tư lệnh cánh quân tiến công trên hướng Tây – Tây Nam đánh vào Sài Gòn. Với tài thao lược và kinh nghiệm trận mạc được tích lũy trong suốt hai cuộc chiến tranh giải phóng, đồng chí Lê Đức Anh đã tổ chức lực lượng, chỉ huy các cánh quân đánh chiếm các mục tiêu theo kế hoạch tác chiến, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần làm nên chiến thắng oanh liệt của dân tộc.Tư lệnh Quân tình nguyện làm nghĩa vụ quốc tế cao cả giúp nước bạn Campuchia và Trưởng ban Lãnh đạo các chuyên gia tại Campuchia, đồng chị Lê Đức Anh đã trực tiếp chỉ huy chiến trường và giành nhiều thắng lợi quan trọng, góp phần bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc, giúp dân tộc Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng và hồi sinh đất nước. Những việc làm của đồng chí được Nhân dân Campuchia quý trọng và Nhân dân tiến bộ trên thế giới đánh giá cao sự giúp đỡ to lớn của quân và dân Việt Nam đối với Nhân dân Campuchia. Với việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đồng chí Lê Đức Anh được thăng quân hàm từ Trung tướng lên Thượng tướng (tháng 01/1981) và lên Đại tướng (tháng 12/1984).Tháng 12/1986, Đại tướng Lê Đức Anh là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, từ năm 1987 là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương. Đồng chí là Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 1992 – 1997. Đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa IV, V, VI, VII, VIII; Bí thư Trung ương Đảng khó VII; Ủy viên Bộ Chính trị khóa V, VI, VII, VIII; Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII; Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ 1997 đến tháng 4/2001; Đại biểu Quốc hội các khóa VI, VIII, IX.Hơn 80 năm tham gia hoạt động cách mạng, gần 30 năm chỉ huy chiến đấu trên chiến trường Nam Bộ – Thành đồng Tổ quốc, gần 10 năm làm nhiệm vụ quốc tế trên nước bạn Campuchia, Đại tướng Lê Đức Anh là một vị tướng dày dạn trận mạc, một nhà chỉ huy quân sự xuất sắc, có tầm nhìn chiến lược, có chiến thuật tài tình và linh hoạt xử lý các tình huống phức tạp. Đồng chí luôn có mặt trên các chiến trường ác liệt nhất, trong những thời điểm gay go nhất với nhiều trận đánh mang tính lịch sử, tạo ra bước ngoặt lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.Trên lĩnh vực chính trị và đối ngoại, thực hiện nhiệm vụ của Bộ Chính trị giao và xuất phát từ lòng nhân ái, từ truyền thống hòa hiếu dân tộc, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã góp một phần quan trọng trong quá trình mở rộng quan hệ đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, nổi bật là quá trình xúc tiến việc bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ và Trung Quốc; ký kết nhiều Hiệp định, Điều ước quốc tế, để lại những dấu ấn quan trọng và tình cảm tốt đẹp với các quốc gia, cộng đồng quốc tế. Thông qua đó, ta đã tranh thủ được sự giúp đỡ, khai thác được thế mạnh của từng quốc gia, từng tổ chức quốc tế vào công cuộc tái thiết và xây dựng đất nước, từng bước nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.Trưởng thành từ một người lính, người chỉ huy qua nhiều trận đánh, rồi sau này khi là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đồng chí Lê Đức Anh thấu hiểu hơn ai hết những mất mát, hy sinh để có ngày toàn thắng, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã đề xuất với Bộ Chính trị việc phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và được Bộ Chính trị đồng ý. Ngày 29/12/1994, lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng Việt Nam, hàng trăm bà mẹ Việt Nam anh hùng ở tuổi ngoài 70 đã cùng duyệt hàng quân danh dự với người đứng đầu Nhà nước Việt Nam – Chủ tịch nước Lê Đức Anh trong khuôn viên Phủ Chủ tịch.Không chỉ là một nhà lãnh đạo tài năng, một chiến sỹ quân đội có tầm nhìn chiến lược, sắc sảo, thận trọng và quyết đoán, đồng chí Lê Đức Anh còn giàu lòng nhân ái, chân tình, độ lượng, luôn dành tình cảm thương yêu và chăm lo đời sống của đồng bào, đồng chí, chiến sỹ.Với 99 tuổi đời, hơn 80 năm tuổi Đảng, Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh đã dành trọn cuộc đời cống hiến vì sự nghiệp cách mạng. Luôn gánh vác những trọng trách quan trọng trong suốt chiều dài đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dù ở cương vị nào, đồng chí cũng luôn dành trọn tâm huyết, trí tuệ và tài năng, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Đồng chí đã đi xa, nhưng sự hy sinh, cống hiến của đồng chí sẽ mãi là những trang sử vàng chói lọi, trường tồn với thời gian.
2.Học tập tấm gương Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh, Đảng bộ và Nhân dân Thừa Thiên Huế quyết tâm xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh
Thừa Thiên Huế là quê hương, nơi lưu giữ nhiều kỷ niệm thời thơ ấu của Đại tướng, cũng là nơi đã nuôi dưỡng, hun đúc tinh thần, ý chí cách mạng của đồng chí Lê Đức Anh. Chính tình yêu quê hương là động lực, là sức mạnh để đồng chí hăng hái tham gia hoạt động cách mạng, cùng đồng bào cả nước đứng lên chống lại ách áp bức của thực dân, đế quốc, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc. Mặc dù sớm thoát ly gia đình và quê hương để tham gia hoạt động cách mạng, đến khi trở thành người lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và lúc nghỉ ngơi công tác, đồng chí vẫn luôn dành thời gian và tình cảm đặc biệt với quê hương Thừa Thiên Huế. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đồng chí nhiều lần trở lại Thừa Thiên Huế và gợi mở, giúp quê hương khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế – xã hội; gợi ý cho lãnh đạo Thừa Thiên Huế xin phép Chính phủ xây dựng cảng Chân Mây để vừa phục vụ kinh tế, vừa phục vụ quốc phòng. Trong những năm 2004 – 2007, đồng chí đã nhiều lần cùng với các bộ, ngành Trung ương về làm việc với lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế và đặc biệt quan tâm đề xuất để tỉnh triển khai thực hiện các đề án lớn như: Đề án công trình thủy lợi hồ Tả Trạch; Đề án nâng cấp thành phố Huế từ đô thị loại 2 lên đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh; Đề án nâng cấp sân bay Phú Bài…Là một người con sâu nặng nghĩa tình với quê hương, đồng chí vui mừng và phấn khởi trước những khởi sắc của Thừa Thiên Huế, đồng chí luôn căn dặn cán bộ, đảng viên phải không ngừng chăm lo đời sống, học tập và lao động sản xuất của Nhân dân, của đồng bào, chiến sỹ, luôn đoàn kết, đồng lòng tích cực xây dựng quê hương, đất nước ngày càng phồn vinh, giàu mạnh. Trong ký ức của mỗi người dân Thừa Thiên Huế, đồng chí Lê Đức Anh là một vị Chủ tịch nước, vị Đại tướng gần gũi, giản dị và thân thương, một nhân cách đức độ với tài – đức vẹn toàn. Đồng chí Lê Đức Anh là một tấm gương sáng để Đảng bộ, quân và dân Thừa Thiên Huế tri ân, học tập và noi theo.Với niềm tự hào và kính trọng với Chủ tịch nước, Đại tướng, Trong những năm qua, Đảng bộ, quân và dân Thừa Thiên Huế vẫn luôn khắc ghi sâu sắc những lời căn dặn, dạy bảo của đồng chí, luôn nêu cao ý chí, lòng kiên trung cách mạng, đoàn kết, đồng lòng vượt qua những khó khăn, thử thách, quyết tâm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo và đã đạt được những kết quả quan trọng và toàn diện. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ 2015 – 2020, trước bối cảnh còn nhiều khó khăn bởi thiên tai, dịch bệnh, Đảng bộ, quân và dân Thừa Thiên Huế đã nỗ lực phấn đấu, vững bước đi lên và đạt được những thành quả
quan trọng trên các lĩnh vực. Tăng trưởng duy trì ở mức khá, cao hơn bình quân chung của cả nước và một số tỉnh trong khu vực miền Trung. Thu ngân sách Nhà nước tăng bình quân gần 8%/năm. Thu nhập bình quân đầu người đứng thứ 3 vùng Duyên hải miền Trung. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2016 – 2020 ước đạt trên 100.000 tỷ đồng. Kết cấu hạ tầng, bộ mặt đô thị, nông thôn ngày càng khang trang, hiện đại. Nhiều công trình, dự án quan trọng được hoàn thành và đưa vào sử dụng. Đề án di dời dân cư, giải phóng mặt bằng khu vực I di tích Kinh thành Huế được triển khai quyết liệt, có ý nghĩa lớn về mặt xã hội và kinh tế. Vị trí đô thị “di sản, văn hóa, sinh thái, cảnh quan, thân thiện môi trường và thông minh” của tỉnh được xác lập và khằng định. Chính trị – xã hội ổn định, quốc phòng – an ninh được giữ vững. Quan hệ đối ngoại tiếp tục được mở rộng. Khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường. Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng đi vào chiều sâu. Bộ máy hành chính từng bước được đổi mới theo hướng tinh gọn, hiện đại, hoạt động ngày càng hiệu lực, hiệu quả.Những thành tựu mà Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế đã đạt được trong thời gian qua thể hiện tinh thần đoàn kết, ý chí quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong tỉnh, là kết quả của quá trình phấn đấu đầy năng động và sáng tạo; là dấu ấn của sự đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện của các cấp ủy Đảng và Chính quyền; sự quan tâm giúp đỡ của Trung ương nhưng cao hơn hết, đầy là sản phẩm của sức mạnh tinh thần to lớn được xây dựng và vun đắp của đồng bào, chiến sỹ, những người con ưu tú của quê hương đã không quản ngại khó khăn, gian khổ hy sinh trong công cuộc đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Những kết quả đạt được là hết sức quan trọng và toàn diện, song phía trước còn rất nhiều khó khăn, thử thách. Với tinh thần kế thừa, phát huy những kết quả đã đạt được và quyết tâm khắc phục những khó khăn, hạn chế, Đại hội Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế lần thứ XVI đã xác định phương châm: “Đoàn kết – Dân chủ – Sáng tạo – Phát triển” với 15 chỉ tiêu kinh tế – xã hội đặt ra trong nhiệm kỳ mới (2020 – 2025) và 6 chương trình trọng điểm tập trung thực hiện. Đại hội cũng đã xác định tập trung triển khai 4 nhóm giải pháp đột phá chiến lược gồm có: cơ chế, chính sách đặc thù để xây dựng đô thị di sản và phát triển kinh tế, phát triển nguồn nhân lực; đầu tư đồngg bộ kết cấu hạ tầng, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng, phát triển và chuyển giao khoa học – công nghệ, tạo động lực mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tết; phát huy giá trị văn hóa và con người Huế.Tiếp tục phát huy ý chí, nghị lực của một vùng đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, là cái nôi sản sinh và nuôi dưỡng biết bao thế hệ lãnh tài năng, tinh hoa của dân tộc, Đảng bộ, quân và dân Thừa Thiên Huế khẳng định quyết tâm tiếp tục nỗ lực, đoàn kết, sáng tạo, biến chủ nghĩa anh hùng cách mạng thành sức mạnh tinh thần và hành đồng; đem tất cả tâm huyết, tài năng và trí tuệ, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa Thừa Thiên Huế ngày càng đổi mới, hội nhập và phát triển, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 54-NQ/TW, ngày 10/12/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII; góp phần đáp ứng nguyện vọng và lòng mong mỏi của Đảng, Bác Hồ vĩ đại, của các thế hệ tiền bối, của Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh, người con ưu tú của quê hương và dân tộc.







Phan Ngọc Thọ(1)
Thừa Thiên Huế – kinh đô của Việt Nam thời nhà Nguyễn – là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, có bề dày lịch sử và văn hóa, được hình thành, phát triển cùng với tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trong thời đại Hồ Chí Minh, người dân Thừa Thiên Huế luôn một lòng đi theo Đảng, bất khuất, kiên cường chống giặc ngoại xâm, hăng say trong lao động, sản xuất. Nhiều người con ưu tú của quê hương đã trở thành những chiến sỹ Cộng sản kiên trung, cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, trong đó có Đại tướng Lê Đức Anh – nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đảng bộ, quân và dân Thừa Thiên Huế mãi mãi tự hào về nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, của Nhân dân, vị tướng tài ba, có nhiều đóng góp to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước và thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả.
1.Quê hương Thừa Thiên Huế và gia tộc họ Lê làng Bàn Môn tự hảo là nơi sinh ra, nuôi dưỡng và hình thành nhân cách đồng chí Lê Đức Anh
Đại tướng Lê Đức Anh (bí danh Nguyễn Phú Hòa, còn gọi là Chín Hòa, Sáu Nam), sinh ngày 01/12/1920 tại làng Trừng Hà, huyện Phú Vang, quê quán ở làng Bàn Môn, xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Làng Bàn Môn, xã Lộc An, huyện Phú Lộc nằm giữa vùng đầm phá và đổi núi, trên con đường thiên lý xưa (nay là Quốc lộ 1A), nên thuận lợi về giao thông, giao thương. Đây là một trong mười làng ở xã Lộc An, huyện Phú Lộc và cũng là làng lớn nhất của xã, có lịch sử hình thành từ khá sớm. Với điều kiện kinh tế khá giả, trong làng có nhiều dòng họ giàu có, nên con cháu có điều kiện để ăn học và ra làm quan đưới các triểu đại phong kiến nhà Nguyễn, có nhiều đóng góp cho quê hương, đất nước. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, làng Bàn Môn là nơi diễn ra nhiều phong trào yêu nước và đấu tranh cách mạng có sức ảnh hưởng trong tỉnh và lan tỏa trong cả nước.
Đại tướng Lê Đức Anh sinh ra trong gia tộc họ Lê – một gia tộc giàu truyền thống hiếu học, yêu nước và đấu tranh cách mạng trên quê hương Thừa Thiên Huế. Trong gia tộc có nhiều tấm gương sáng về tinh thần hiếu học, cần mẫn, chịu khó, nhưng cũng rất khí khái, hiên ngang như: Ngài Lê Văn Hoằng, đời thứ hai, làm quan đến chức Tri phủ từ thời Lê đến thời Nguyễn; Ngài Lê Văn Thành, đời thứ bảy, làm Tri huyện Minh Linh (Quảng Trị), vào khoảng niên hiệu Gia Long (1802 – 1819), vua nghe tiếng ông giỏi về nghề thuốc liền triệu về kinh, phong chức Y chính ở Thái Y viện(1)… Ông cố của đồng chí Lê Đức Anh là cụ Lê Văn Trinh (1835 – 1915), cũng là một danh y tài giỏi, có tấm lòng nhân ái, hay cứu giúp người, được nhân dân địa phương ca ngợi. Ông Lê Quang Túy (1885 – 1969), thân phụ của đồng chí Lê Đức Anh là con trai trưởng, cũng là một thầy thuốc. Ông từng là đội trưởng phụ trách đội thuyền chở vua Duy Tân về trú ẩn ở làng Hà Trung trong cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội ở miền
Trung do Thái Phiên, Trần Cao Vân cầm đầu với sự tham gia của vua Duy Tân. Thân mẫu của đồng chí Lê Đức Anh là bà Lê Thị Thoa (1886 – 1967), ngưởi làng Bàn Môn một phụ nữ cần cù, chịu thương, chịu khó. Ngày nay, tiếp nối truyền thống tốt đẹp của các thế hệ cha ông, con cháu dòng họ Lê không ngừng nỗ lực phấn đấu trong công cuộc xây dựng và phát triển quê hương, đất nước ngày càng phồn vinh, giàu đẹp, xứng đáng với sự hy sinh và lòng mong mỏi của các bậc sinh thành và tiền nhân.
Được sinh ra trong một gia tộc có truyền thống hiếu học và trên quê hương có truyền thống đấu tranh cách mạng, lớn lên trong cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân lầm than, cơ cực, đồng chí Lê Đức Anh và các anh, chị em của ông sớm được thừa hưởng truyền thống tốt đẹp của gia đình và quê hương. Chính tính nhẫn nhịn, chịu thương, chịu khó của phụ mẫu và người dân quê hương đã ảnh hưởng nhiều đến tính cách và chí hướng của đồng chí Lê Đức Anh và các anh, chị em trong gia đình về sau này.
2.Thừa Thiên Huế tự hào là nơi hun đúc ý chí cách mạng và là nơi Đại tướng luôn đau đáu nhớ về
Mặc dù cuộc sống khó khăn, nhưng đồng chí Lê Đức Anh sớm được gia đình chăm lo cho đi học. Lên 5 tuổi, đồng chí được học chữ Nho tại nhà. Từ 6 tuổi đến 10 tuổi, đồng chí được học chữ Quốc ngữ ở làng Dưỡng Mong và trường An Lương Đông (huyện Phú Lộc). Năm 11 tuổi, nạn đói kém, thất học hoành hành các làng quê Việt Nam, để không bị gián đoạn việc học, đồng chí được bố mẹ gửi ra Nghệ An sống với gia đình người chị ruột, học hết bậc Tiểu học ở Vinh, sau đó quay trở lại quê nhà ở Trừng Hà, Vinh Phú.
Khi đồng chí Lê Đức Anh đến tuổi trưởng thành, bố mẹ nuôi của thân phụ mẫu lần lượt qua đời. Gia đình đồng chí chuyển về sống tại quê hương làng Bàn Môn, Phú Lộc. Cũng chính nơi đây, đồng chí Lê Đức Anh được nghe những cuộc chuyện trò của các bậc cha chú, những người luôn đau đáu với thời cuộc và bắt đầu hun đúc tinh thần cách mạng. Một trong những người đã định hướng và góp phần vun đắp, bồi dưỡng tinh thần yêu quê hương, đất nước và từng bước hướng đồng chí Lê Đức Anh đến với chủ nghĩa Cộng sản là đồng chí Lê Bá Dị (Cậu họ của đồng chí Lê Đức Anh), Bí thư Chi bộ ghép Phú Vang – Phú Lộc, một trong những Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Thừa Thiên Huế. Đồng chí Lê Đức Anh đã được đọc các loại sách báo về tình hình trong và ngoài nước do đồng chí Lê Bá Dị sưu tầm, được đồng chí Lê Bá Dị sớm khơi gợi tinh thần yêu nước, đấu tranh cách mạng. Cũng nhờ vị tiền bối này, đồng chí Lê Đức Anh sớm được tiếp xúc với những người yêu nước và cách mạng, tìm hiểu về chủ nghĩa Cộng sản, về nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc… Năm 1938, chính đồng chí Lê Bá Dị đã kết nạp đồng chí Lê Đức Anh vào Đảng Cộng sản Đông Dương, khi tròn 18 tuổi. Từ đây, đồng chí Lê Đức Anh bắt đầu cuộc đời của người Cộng sản. Hoạt động cách mạng của đồng chí bắt đầu từ những việc nhỏ như rải truyền đơn, treo cờ đỏ búa liềm, đến việc tuyên truyền, vận động trong dân chúng. Đồng chí tham gia hoạt động cách mạng trong Mặt trận Dân chủ huyện Phú Vang và Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 1937.
Thoát ly hoạt động cách mạng từ rất sớm, nhưng đồng chí Lê Đức Anh luôn nhớ về quê hương với một tình cảm rất sâu đậm. Một lần về thăm quê hương, đồng chí Lê Đức Anh đã gợi ý cho lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế xin phép Chính phủ làm cảng Chân Mây, vừa phục vụ kinh tế, vừa phục vụ quốc phòng. Từ gợi ý đó, lãnh đạo tỉnh đã cho tiến hành khảo sát và đề xuất lên Chính phủ. Ngày 14/3/1996, Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt cùng với các bộ, ngành liên quan về Chân Mây kiểm tra thực địa và sau đó giao cho các bộ, ngành cùng tỉnh Thừa Thiên Huế xây dựng quy hoạch khu vực Chân Mây. Những năm 2004 – 2007, trong những lần cùng với các bộ, ngành Trung ương về làm việc với lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế, đồng chí Lê Đức Anh đặc biệt quan tâm tới ba Đề án lớn chưa được triển khai thực hiện: Đề án công trình thủy lợi hồ Tả Trạch; Đề án nâng cấp thành phố Huế từ đô thị loại 2 lên loại 1 trực thuộc tỉnh; Đề án nâng cấp sân bay Phú Bài. Công trình thủy lợi hồ Tả Trạch được đầu tư nhằm chống lũ tiểu mãn, lũ sớm, lũ chính vụ cho hệ thống sông Hương; tạo nguồn nước tưới ổn định cho đất canh tác, bổ sung nguồn nước ngọt cho hạ lưu sông Hương để đẩy mặn, cải thiện môi trường đầm phá Tam Giang – Cầu Hai; phục vụ nuôi trồng thủy sản, cấp nước sinh hoạt và công nghiệp, phát điện khi cần thiết. Đề án quy hoạch thành phố Huế từ đô thị loại 2 lên đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh cũng đóng vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển của tỉnh. Đây là vấn đề mới, đầu tiên của cả nước mà từ trước đến nay chưa địa phương nào thực hiện. Đề án nâng cấp sân bay Phú Bài để phát triển kinh tế, nhất là du lịch. Với trách nhiệm, tấm lòng hướng về quê hương, đồng chí Lê Đức Anh đã trực tiếp viết thư gửi Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải để đề xuất nguyện vọng của tỉnh. Sau khi nhận được ý kiến của Đại tướng, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã cùng với các bộ, ngành Trung ương xem xét và ra Quyết định phê chuẩn để thực hiện. Đến nay, các công trình mang tính bước ngoặt lớn của tỉnh có công lớn của đồng chí Lê Đức Anh đã và đang phát huy hiệu quả.
Theo lời kể của người dân xã Lộc An, khi còn khỏe, đồng chí Lê Đức Anh rất nhiều lần về thăm quê. Mỗi lần về quê, đồng chí thường đi thăm bà con quanh xóm, ân cần hỏi han cuộc sống lao động, sản xuất của bà con. Nhìn thấy con đường xuống bến sông Truồi bị xuống cấp, đồng chí đã đầu tư kinh phí để bê tông hóa, giúp bà con đi lại được thuận tiện hơn. Năm 2014, trong chuyến về thăm quê, đồng chí Lê Đức Anh ghé vào Ủy ban Nhân dân xã Lộc An để thăm các cán bộ đang làm việc, đồng thời nhắn nhủ “Quê hương Lộc An còn nghèo, nhân dân còn khó khăn. Cán bộ chính quyền phải quan tâm đến đời sống của Nhân dân, biết yêu thương dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của dân; biết khơi dậy sức mạnh của sự đoàn kết để chung tay, góp sức thay đổi bộ mặt quê nhà, nâng cao đời sống Nhân dân”.
- Thừa Thiên Huế tự hào về đồng chí Lê Đức Anh – người Cộng sản kiên cường, người chỉ huy quân sự tài ba, quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, dạn dày kinh nghiệm trận mạc, có nhiều đóng góp trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và làm nhiệm vụ quốc tế cao cả; suốt đời cống hiến, hy sinh vì lý tưởng độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của Nhân dân
Sinh ra trong cảnh nước mất, nhà tan, phải chứng kiến cảnh người dân nô lệ mất nước, sống cơ cực dưới chế độ phong kiến, thực dân, đã hun đúc trong đồng chí Lê Đức Anh lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh cách mạng. Từ khi còn nhỏ, bệnh đậu mùa đã làm một bên mắt bị mờ và một bên chân bị yếu cho đến tận sau này, nhưng ý chí và nghị lực mạnh mẽ đã thôi thúc đồng chí hăng hái tham gia hoạt động cách mạng và đi suốt các cuộc chiến tranh của dân tộc. Những năm đầu hoạt động cách mạng sôi nổi với bao khó khăn, thử thách đã tôi rèn đồng chí Lê Đức Anh trở thành người chiến sỹ Cộng sản kiên cường, để suốt đời chiến đấu, hy sinh vì lý tưởng cách mạng của Đảng, vì hạnh phúc của Nhân dân.
Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Lê Đức Anh thật phong phú và oanh liệt. 99 năm tuổi đời, hơn 80 năm tuổi Đảng, hoạt động ở nhiều vùng, nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực, trải rộng trên cả ba miền đất nước và được Đảng tin cậy giao phó nhiều trọng trách. Dù ở đâu, làm công việc gì, ở cương vị nào đồng chí Lê Đức Anh cũng luôn hết lòng vì Đảng, vì dân, vững vàng trước mọi thử thách, khó khăn, kiên định mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ và đã có nhiều đóng góp to lớn cho Đảng, cho cách mạng. Trên bất kỳ cương vị công tác nào, đồng chí cũng luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân, giữ vững khí tiết, phẩm chất của người chiến sỹ Cộng sản, bản chất truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện. Trong công tác, đồng chí luôn đổi mới, quyết đoán, nhanh nhạy, bám sát thực tiễn, gần dân, chăm lo cho dân, dám chịu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và cũng rất giản dị, sâu sắc, nhân văn trong cuộc sống, được đồng chí, đồng đội và Nhân dân yêu mến, bạn bè quốc tế đánh giá cao.
Đồng chí đã được Đảng, Nhà nước tín nhiệm, giao giữ nhiều trọng trách quan trọng.
Đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng các khóa IV, V, VI, VII, VIII; Bí thư Trung ương Đảng khóa VII; Ủy viên Bộ Chính trị các khóa V, VI, VII, VIII; Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII; Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ tháng 12/1997 đến tháng 4/2001; đại biểu Quốc hội các khóa VI, VIII và IX.
Đồng chí được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế.
- Thừa Thiên Huế tự hào về đồng chí Lê Đức Anh – nhà lãnh đạo xuất sắc, có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, với nhiều dấu ấn nổi bật trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Sau Đại hội VI của Đảng (1986), với cương vị Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đồng chí Lê Đức Anh đã có những đề xuất xác đáng với Bộ Chính trị về giải quyết vấn đề biên giới, và từ vấn đề biên giới để định ra chiến lược và sách lược của công tác đối ngoại.
Với thành công của chuyến thăm Trung Quốc vào cuối tháng 7/1991, mở đầu cho chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam do Tổng Bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt dẫn đầu, theo lời mời của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân và Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Lý Bằng, đồng chí Lê Đức Anh đã có công trong việc xúc tiến bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Trung Quốc.
Đồng chí đã đề xuất với Đảng, Nhà nước và trực tiếp chỉ đạo giải quyết nhiều vấn đề lớn, quan trọng về quân sự, quốc phòng như: Thực hiện giảm quân số, giảm ngân sách quốc phòng trong tình hình nền kinh tế bị khủng hoảng; tiến hành các chính sách cụ thể để cải thiện đời sống bộ đội, giải quyết việc làm cho quân nhân xuất ngũ, thực hiện chính sách hậu phương quân đội; chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân trong tình hình mới… Đồng chí đặc biệt quan tâm và có tầm nhìn chiến lược về phòng thủ, bảo vệ chủ quyền biển đảo; đưa lực lượng ra đóng giữ các đảo Đá Tây, Chữ Thập, Đá Lớn, Tiên Nữ để khai thác và sẵn sàng bảo vệ quần đảo(1) Trường Sa; đóng giữ, bảo vệ khu vực biển thềm lục địa, các bãi đá ngầm (khu DK1) của Việt Nam.
Trên cương vị Chủ tịch nước, đồng chí Lê Đức Anh đã có nhiều công lao, cống hiến to lớn với nhiều dấu ấn nổi bật cả về đối nội và đối ngoại. Về đối nội, đồng chí đã cùng các đồng chí trong Bộ Chính trị dồn hết tâm lực cho công việc với quyết tâm và cố gắng cao nhất, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, phát huy mọi động lực mới, khai thác mọi tiềm năng để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống của Nhân dân. Đồng chí thường tận dụng quỹ thời gian của mình đến các địa phương để nắm bắt tình hình thực tế ở cơ sở, nhìn rõ những thuận lợi cần khai thác, những khó khăn cần tháo gỡ; trên cơ sở đó, đã hoàn thành tốt các công việc về công tác xây dựng pháp luật, công tác cán bộ, công tác tiếp dân, công tác thi đua – khen thưởng…
Về đối ngoại, đồng chí Lê Đức Anh đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xúc tiến bình thường hóa quan hệ với Mỹ và thúc đẩy Việt Nam gia nhập tổ chức ASEAN; cùng với Bộ Chính trị chỉ đạo sát sao các bộ, ngành để mở rộng quan hệ với các nước. Trên cương vị là nguyên thủ quốc gia, đồng chí đã tham dự nhiều diễn đàn quốc tế quan trọng; thăm và chính thức làm việc với nhiều nước trên thế giới; đón tiếp 26 nguyên thủ quốc gia thăm hữu nghị chính thức và nhiều đoàn khách quốc tế đến thăm Việt Nam; tiếp đón 90 Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài tại Việt Nam và cử 57 Đại sứ của nước ta tại các nước có quan hệ ngoại giao với Việt Nam; ký Quyết định phê chuẩn 01 Hiến chương, 26 Công ước, 05 Hiệp ước, 35 Hiệp định, 03 Nghị định thư giữa Việt Nam với các nước và tổ chức quốc tế; trình Quốc hội phê chuẩn 01 Công ước theo quy định của Hiến pháp (Công ước quốc tế về Luật biển); ủy quyền đàm phán và ký kết một số điều ước quốc tế khác.
- Thừa Thiên Huế mãi tự hào về đồng chí Lê Đức Anh, một nhân cách đức độ, giản dị, gần gũi, thẳng thắn, chân thành, giàu tình yêu thương con người
Hơn 80 năm hoạt động cách mạng, là cán bộ lão thành cách mạng, được tôi luyện, vào sinh, ra tử, trưởng thành qua các cuộc kháng chiến và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, đồng chí Lê Đức Anh luôn giữ vững ý chí, phẩm chất của người chiến sỹ Cộng sản, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân; không ngừng rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, nâng cao tri thức, sáng tạo, sắc sảo, quyết đoán và hành động quyết liệt trong mọi công việc. Đồng chí không ngừng phấn đấu, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn thể hiện rõ phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, đặt lợi ích của Đảng, Tổ quốc và Nhân dân lên trên hết. Khi ốm nặng và trong quá trình điều trị, mỗi lần đồng chí, đồng đội, đồng bào đến thăm, đồng chí Lê Đức Anh đều quan tâm hỏi han về tình hình đất nước, về cuộc sống của người dân với tình cảm ân cần và cảm động.
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, đồng chí Lê Đức Anh đã có nhiều cống hiến cho Đảng, Nhà nước, Quân đội và Nhân dân, đồng chí sống giản dị và vô cùng thanh bạch, là tấm gương sáng để đồng bào, đồng chí, cán bộ, chiến sỹ cả nước yêu mến, kính trọng, học tập và noi theo. Đối với đồng chí, đồng đội, không phân biệt cấp bậc, chức vụ, sẵn sàng chia sẻ ngọt bùi, luôn quan tâm, chăm lo cho cán bộ, chiến sỹ và thực hiện chế độ, chính sách hậu phương quân đội. Mặc dù là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy ở tầm chiến lược, nhưng đồng chí Lê Đức Anh luôn xông xáo, không ngại hiểm nguy, luôn có mặt ở những nơi khó khăn để chỉ đạo cách giải quyết. Trong chiến đấu và trong công việc, đồng chí rất quyết đoán, thẳng thắn và nghiêm khắc, nhưng trong sinh hoạt đời thường, đồng chí lại thương yêu, quan tâm, chăm lo và chia sẻ ngọt bùi với cán bộ, chiến sỹ. Dù là Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nhưng khi đến thăm đơn vị quân đội, đồng chí nói chuyện rất thân mật, gần gũi với các chiến sỹ trẻ. Để nắm bắt tình hình thực tế, nhìn rõ những thuận lợi, khó khăn, đồng chí luôn lắng nghe để nắm bắt tâm tư, tình cảm của Nhân dân, bởi thế khi làm việc với lãnh đạo các địa phương, đơn vị, những ý kiến chỉ đạo của đồng chí rất sát đúng và phù hợp với thực tiễn. Đồng chí thường xuyên nhắc nhở lãnh đạo địa phương “Chúng ta làm cách mạng để giành chính quyền cho Nhân dân, chính quyền của dân, do dân, vì dân”(1). Đồng chí luôn động viên, giúp đỡ các cựu chiến binh khắc phục khó khăn, luôn quan tâm chỉ đạo giải quyết tốt các chế độ, chính sách và đặc biệt đối với các Bà mẹ Việt Nam anh hùng đã sinh ra rất nhiều thế hệ anh hùng Việt Nam. Đồng chí đã ký công bố Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người tham gia hoạt động kháng chiến, người có công với cách mạng. Kể từ đó, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, xây dựng nhà tình nghĩa và nhận phụng dưỡng suốt đời các Bà mẹ Việt Nam anh hùng và xây dựng “Quỹ đền ơn đáp nghĩa”, toàn dân chăm sóc gia đình thương binh, liệt sỹ, người có công với cách mạng được hưởng ứng sôi nổi, rộng khắp trong cả nước, thể hiện sâu sắc đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam.
Trên cương vị Chủ tịch nước, là nguyên thủ quốc gia, đồng chí Lê Đức Anh nhiều lần dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao của nước ta đến thăm các nước, các tổ chức quốc tế và ký nhiều Hiệp định, Điều ước quốc tế. Đồng chí đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng và tình cảm tốt đẹp với các quốc gia, cộng đồng quốc tế.
Đồng chí luôn gần gũi, chân tình, sâu sắc và nặng tình nghĩa với quê hương. Mỗi lần về quê, đồng chí thường đi thăm bà con lối xóm, ân cần thăm hỏi cuộc sống, tình hình lao động, sản xuất; động viên bà con, họ hàng, con cháu quê nhà chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước, phát huy tinh thần thi đua yêu nước, tích cực lao động, sản xuất để phát triển quê hương ngày càng giàu đẹp.
Noi gương đồng chí Lê Đức Anh và các thế hệ lãnh đạo tiền bối của Đảng, trong những năm qua, dù đứng trước muôn vàn khó khăn, phức tạp, Đảng bộ, quân và dân Thừa Thiên Huế đã đoàn kết, chủ động, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu đạt được những thành quả quan trọng trên các lĩnh vực, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng. Kinh tế duy trì ổn định và có sự tăng trưởng khá, bình quân ước đạt 6,5%/năm(1), cao hơn bình quân chung của cả nước và một số tỉnh trong khu vực miền Trung; so với năm 2015, quy mô nền kinh tế tăng gấp 1,6 lần; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2020 đạt 2.169 USD, đứng thứ 3 vùng Duyên hải miền Trung(2). Phát huy vị thế 4 trung tâm văn hóa, du lịch đặc sắc của cả nước, y tế chuyên sâu, khoa học – công nghệ và giáo dục – đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao và nâng cao công tác an sinh xã hội, giảm nghèo, giải quyết việc làm gắn với bảo vệ môi trường: Thực hiện có hiệu quả đường lối và chính sách đối ngoại; góp phần nâng cao hình ảnh, vị thế của Thừa Thiên Huế trong thời kỳ hội nhập, quốc phòng – an ninh được giữ vững; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Công tác xây dựng Đảng được chú trọng, Đảng bộ tỉnh trong sạch, ngày càng vững mạnh và đoàn kết; quan tâm chăm lo, xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. Kiên quyết ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên; các biểu hiện suy thoái “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Trong những năm qua, Đảng bộ và Nhân dân huyện Phú Lộc nói chung và xã Lộc An nói riêng, đã xác định nhiệm vụ cốt lõi là phải xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tăng cường sự lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, nâng cao chất
lượng, trách nhiệm và đạo đức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức vì Nhân dân phục vụ; không ngừng nỗ lực thi đua lao động sản xuất, phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương để phát triển kinh tế, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị luôn được quan tâm và triển khai thực hiện tốt, nhiều năm liền Đảng bộ đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh.
Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của đồng chí Lê Đức Anh (01/12/1920 – 01/12/2020), cũng là thời điểm Đảng bộ, Chính quyền, Nhân dân và các lực lượng vũ trang trong tỉnh đang ra sức thi đua chào mừng thành công Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XVI, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII. Càng vinh dự và tự hào với truyền thống tốt đẹp của quê hương, của các thế hệ lãnh đạo tiền bối, Đảng bộ và Nhân dân Thừa Thiên Huế càng nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong công cuộc xây dựng và
phát triển quê hương, đất nước. Noi gương đồng chí Lê Đức Anh, Đảng bộ và Nhân dân Thừa Thiên Huế nguyện nỗ lực phấn đấu, ra sức hành động, thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển, xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.









Hoàng Khánh Hùng(1)
Đồng chí Lê Đức Anh (1920 – 2019), là một chiến sỹ Cộng sản kiên cường, một vị tướng tài ba, một nhà chính trị tầm cỡ, người đã có nhiều cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng. Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Lê Đức Anh gắn liền với sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng, của dân tộc, của Quân đội Nhân dân Việt Nam, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Là một người con ưu tú của quê hương Thừa Thiên Huế, đồng chí Lê Đức Anh được sinh ra và lớn lên trong một gia tộc giàu truyền thống hiếu học, yêu nước và đấu tranh cách mạng – gia tộc họ Lê ở làng Bàn Môn, xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chính truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng và tinh thần nhân văn được lưu truyền trong gia đình, dòng tộc đã chắp cánh cho những quyết tâm, hoài bão và con đường cách mạng của đồng chí Lê Đức Anh.
- Vài nét về làng Bàn Môn, xã Lộc An, huyện Phú Lộc
Làng Bàn Môn là một trong mười làng của xã Lộc An, huyện Phú Lộc, và cũng là làng lớn nhất của xã. Làng có lịch sử hình thành từ khá sớm,trong thư tịch cổ, tên làng chưa xuất hiện trong Ô Châu cận lục (viết năm 1555) của Dương Văn An, nhưng đã xuất hiện trong Phủ Biên tạp lục (khoảng sau năm 1774) của Lê Quý Đôn. Vào đầu thế kỷ XIX, theo ghi chép của địa bạ lập dưới thời Gia Long (1810 – 1818), Bàn Môn là một trong 23 làng của
tổng Dương Nỗ, huyện Phú Vang(1).
Làng Bàn Môn nằm giữa vùng đầm phá và đồi núi, trên con đường thiên lý xưa, là quốc lộ 1A hiện nay, nên thuận lợi về giao thông, giao thương cửa ngõ phía Nam kinh đô Huế, với xứ Quảng trước đây. Hiện nay, số dòng họ sinh sống ở làng Bàn Môn thống kê được đến 43 dòng họ, gồm có: Trần Hữu, Hoàng, Cao, Trương, Lê Đăng, Lê Bá, Lê Đức…
Mặc dù ở gần đầm Cầu Hai và vùng đồi ven ngọn núi Truồi thơ mộng, nhưng Bàn Môn xưa nay vẫn là một làng thuần nông, có truyền thống lâu đời về hoạt động nông nghiệp, đặc biệt là truyền thống khai hoang, làm thủy lợi để đảm bảo cuộc sống sinh tồn của mình. Do địa thế của làng ở vị trí nơi cuối cùng của con sông Truồi nổi tiếng, giáp với vùng đầm phá, nên lượng phù sa được bồi đắp hàng năm khá lớn, cộng với sự cần cù, thông minh của bao thế hệ nông dân tụ cư về đây khai phá, công cuộc khai hoang, mở rộng diện tích canh tác, mở rộng làng xã của ông cha đã đưa làng Bàn Môn nhanh chóng phát triển thành một làng lớn.
Với điều kiện kinh tế khá giả, trong làng có nhiều dòng họ giàu có, nên có điều kiện cho con ăn học rồi làm quan dưới các triều đại phong kiến, có nhiều đóng góp cho đất nước, tiêu biểu như: họ Hoàng có Hoàng Văn Điển (1767 – 1854), làm quan đến chức Thượng thư Bộ Lại; họ Trần có Trần Đình Túc (1807 – 1892), làm quan đến chức Thượng thư triều Nguyễn… Các ông đều nổi tiếng là các vị quan thanh liêm, cần mẫn, thương dân, được Nhân dân nhiều đời truyền tụng.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, làng Bàn Môn là nơi diễn ra nhiều phong trào yêu nước và đấu tranh cách mạng. Đầu thế kỷ XX, Bàn Môn là địa bàn tập hợp quần chúng nổi dậy hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quang phục hội ở miền Trung do Thái Phiên, Trần Cao Vân lãnh đạo với sự tham gia của vua Duy Tân. Cụ Lê Quang Túy, thân phụ của đồng chí Lê Đức Anh đã làm đội trưởng phụ trách đội thuyền chở vua Duy Tân về lánh nạn ở làng Hà Trung (Phú Vang). Hoạt động của ông Hoàng Đức Trạch ở Viện Dân biểu Trung Kỳ tiêu biểu cho một thời kỳ đấu tranh công khai hợp pháp với thực dân Pháp. Trong quá trình vận động chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ở Huế, xứ Truồi trở thành một trung tâm. Qua sự vận động của các ông Nguyễn Khoa Văn, Trần Hữu Duẫn, Trần Phạm Phương…, ông Lê Bá Dị (quê Bàn Môn) đã được kết nạp vào Đảng Tân Việt vào năm 1929. Đến năm 1930, trở thành Bí thư Chi bộ ghép hai huyện Phú Vang – Phú Lộc. Bàn Môn cũng là nơi sản sinh ra nhiều người con ưu tú, những thế hệ đảng viên đầu tiên đông đảo nhất trong tỉnh, gồm các đồng chí Lê Trọng Uẩn, Lê Trọng Ngạc, Lê Thúc Khánh, Lê Nhã, Nguyễn Sơn…
Trải qua 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dù trong vùng tạm chiếm, Nhân dân Bàn Môn vẫn một lòng, một dạ đi theo Đảng và đã đóng góp nhiều cho sự nghiệp cách mạng đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Ghi nhận những đóng góp to lớn của Nhân dân Bàn Môn cho sự nghiệp cách mạng, năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng đã tặng bảng vàng “Có công với nước” cho làng, phong tặng 07 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, hàng trăm liệt sỹ và gia đình có công với cách mạng.
Làng Bàn Môn, xã Lộc An, huyện Phú Lộc chính là vùng đất tiêu biểu, có truyền thống văn hóa – lịch sử và truyền thống cách mạng kiên cường trên quê hương Thừa Thiên Huế, nơi đã sản sinh ra nhiều gia đình, dòng tộc, người con có truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng trong lịch sử của Đảng và dân tộc.
- Gia tộc họ Lê – một gia tộc giàu truyền thống hiếu học, yêu nước và đấu tranh cách mạng trên quê hương Phú Lộc
Là một trong những dòng họ lớn của làng Bàn Môn, xã Lộc An, họ Lê của đồng chí Lê Đức Anh có nguồn gốc từ xã La Khê, huyện Thanh Oai, Hà Nội, thuộc xứ Bắc Kỳ (1) (nay là Thủ đô Hà Nội). Ngài Sơ tổ của họ là Từ Gia Diệu tướng Lê Quý Công, húy Bôi (Lê Ngọc Bôi). Ông chính là người đầu tiên vào lập nghiệp tại làng La Khê (Bao Vinh), huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là làng La Khê, xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế) (2).
Theo Gia phả họ Lê, đến thời điểm 1994, dòng họ này đã truyền được 18 đời (đến nay khoảng 19 đời) và có 05 phái. Đồng chí Lê Đức Anh thuộc phái 4, đời thứ 12 họ Lê. Đây là một trong những gia tộc có nhiều tấm gương sáng về tinh thần hiếu học, cần mẫn, chịu khó, nhưng cũng rất khí khái, hiên ngang, tiêu biểu như: Ngài Lê Văn Hoằng, đời thứ 2 làm quan đến chức Tri phủ từ thời Lê cho đến đầu thời Nguyễn; ngài Lê Văn Thành, đời thứ 7, làm quan Tri huyện Minh Linh – Quảng Trị vào khoảng niên hiệu Gia Long (1802 – 1819), vua nghe tiếng ông giỏi nghề thuốc, liền triệu về Kinh, phong chức Y chính ở Thái Y viện (3); ông Lê Văn Mậu, đời thứ 9, dưới triều Tự Đức, ông thi đỗ khoa Võ nghệ, được cử huấn luyện hương binh; Ông Lê Đình Trân, đời thứ 11, đỗ Tú tài Hán học khoa thi Hương Mậu Ngọ (1918)… Đặc biệt, ông Lê Văn Hộ, đời thứ 8, ông làm quan hàm Cửu phẩm tại Thái Y viện dưới triều Minh Mạng, được cử giữ chức Chánh Ngự y, ông từ chối không nhận, xin về quê dưỡng hưu và làm thuốc. Vua ân phong tước Hộ Đức Nam. Năm Tân Sửu đầu triều Thiệu Trị (1841), lấy cớ tuổi già, con cái nhỏ dại, ở chốn phồn hoa e dễ tập quen thói xa xỉ, ông bèn về làng Hà Trung sớm cày ruộng, chiều dạy học. Lúc đầu chỉ dựng nhà cửa, cuối cùng lập thành thôn ấp. Đến đời Đồng Khánh, dân trong ấp lập miếu thờ làm tiền khai canh và xin Sắc phong thần. Đến năm Duy Tân thứ 8, ông được Sắc phong Dực Bảo.
Không chỉ là các bậc tiền nhân tiên tổ, các đấng sinh thành, anh em gia đình đồng chí Lê Đức Anh cũng là những con người học cao, hiểu rộng, có cốt cách nhân hậu, sống chan hòa, nhân văn, nhưng rất kiên trung, bản lĩnh trong đấu tranh cách mạng để bảo vệ quê hương, đất nước.
Ông cố của đồng chí Lê Đức Anh là cụ Lê Văn Trinh (1835 – 1915), là một danh y tài giỏi, có tấm lòng nhân ái, hay cứu giúp người. Không chỉ người dân trong làng, ông còn được người dân quanh vùng tìm đến và được ông tận tình cứu giúp. Người dân địa phương vẫn còn truyền tụng những bài vè ca ngợi tài năng, đức độ của ông:
“Thương hàn thầy Giáo(1), thầy Lan
Châm chích Lưu, Thống, đậu Sang, Vinh, Huỳnh”
Khi ông mất, Nhân dân địa phương vô cùng thương xót, tình cảm ấy được bày tỏ qua bài hò:
“Xưa nay ai được như thầy,
Công ơn nghĩa nặng đong đầy vẻ vang
Làm người trung, hiếu lưỡng toàn
Đáng trang trung dũng, khí thiên lương (như) cao hề”.
Bà cố của đồng chí Lê Đức Anh là cụ Võ Thị Mận (1835 – 1885), người Bàn Môn, tổng An Nông, huyện Phú Lộc, vốn là con gái thứ hai của ông Võ Quý, là Án sát tỉnh Vĩnh Long (Nam Kỳ) (1). Hai ông bà sinh hạ được 8 người con (7 trai, 1 gái).
Người con trai thứ ba của ông Lê Văn Trinh là ông Lê Văn Chuân (1860 – 1922), từng làm việc nhiều năm dưới các triều vua nhà Nguyễn. Năm Đồng Khánh nguyên niên (1886), ông được bổ chức Đằng lục ở Quốc Sử quán, sung Bút thiếp (như thư ký), biên chép bộ Đại Nam thực lục. Năm Duy Tân thứ 7 (1913), ông được thăng hàm Chánh Thất phẩm. Vợ của ông là bà Hoàng Thị Chanh (1867-1944), người xã Bích Khê, huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong. Bà là con gái thứ ba của ông Hoàng Hữu Công, Phó Đô Ngự sử – Viện Đô sát(2).
Các con trai của ông Lê Văn Chuân cũng đều là những người đỗ đạt, làm quan, có nhiều đóng góp dưới triều đại nhà Nguyễn, như: Lê Mộng Hủ (1893 – 1968), là sơ bổ Thừa phái, làm việc ở phủ Bình Sơn – Quảng Ngãi; ông Lê Đình Trân (1900 – 1971), đỗ Tú tài Hán học khoa thi Hương Mậu Ngọ (1918), là sơ bổ Thừa phái tỉnh Hà Tĩnh (1931), đến 1956, ông nghỉ hưu với ngạch Kiểm sự.
Ông nội của đồng chí Lê Đức Anh là cụ Lê Thảng (1861 – 1939), con trai thứ tư của ông Lê Văn Trinh và bà Võ Thị Mận, làm nghề bốc thuốc, chữa bệnh cứu người. Bà nội của đồng chí Lê Đức Anh là cụ Cung Thị Quyền. Hai cụ sinh hạ được 6 người con. Ông Lê Quang Túy (1885 – 1969), thân phụ của đồng chí Lê Đức Anh là con trai trưởng.
Bà cô của ông Lê Quang Túy là Lê Thị Kiêm lấy chồng ở làng Trừng Hà, xã Vinh Phú, huyện Phú Vang. Do hai vợ chồng bà Kiêm không có con, nên ông Túy sang làm con nuôi của ông bà.
Ông bà nuôi đã truyền nghề làm thuốc cho ông Túy, cho ông học chữ Nho và cưới vợ cho ông. Vì vậy, nên quê quán làng Bàn Môn, xứ Truồi, nhưng nơi chào đời và lớn lên của đồng chí Lê Đức Anh lại ở làng Trừng Hà, Vinh Phú, Phú Vang. Đây là một vùng quê nghèo, đất đai cằn cỗi nằm bên kia phá Tam Giang. Sau này nhờ có cây cầu Trường Hà đã nối đôi bờ từng một thời cách sông trở đò. Việc học hành của Đại tướng Lê Đức Anh từ thuở nhỏ cũng vì thế mà hết sức gian nan.
Thân mẫu của đồng chí Lê Đức Anh là bà Lê Thị Thoa (1886 – 1967), cũng là người làng Bàn Môn. Bà là một người phụ nữ cần cù, chịu thương, chịu khó. Hai ông bà sinh hạ được 13 người con, 4 người mất lúc nhỏ, còn lại 9 người. Mặc dù ông Túy có thêm nghề thầy thuốc, nhưng chủ yếu làm việc thiện cứu người. Do gia đình đông con, nên ông bà phải bươn chải, tần tảo vừa làm ruộng, vừa làm thuốc, vừa đi làm thuê kiếm sống. Mặc dù vậy, hai ông bà vẫn chăm lo cho con cái học hành.
Được sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học và trên quê hương giàu truyền thống đấu tranh cách mạng, đồng chí Lê Đức Anh và các anh, chị em của mình sớm được thừa hưởng truyền thống tốt đẹp của gia đình và quê hương. Chính nhờ đức tính nhẫn nhịn, chịu thương, chịu khó của phụ mẫu và người dân quê hương đã ảnh hưởng nhiều đến tính cách và chí hướng của đồng chí Lê Đức Anh, cùng các anh, chị em trong gia đình sau này.
Đồng chí Lê Đức Anh sinh ngày 01/12/1920, tại gia đình ông bà nuôi ở làng Trừng Hà, xã Vinh Phú, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế – một làng quê nghèo bên phá Tam Giang. Ở đây, ruộng canh tác ít, đất cát rất khó để gieo trồng, người dân quanh vùng phải đi làm thuê khắp nơi để kiếm sống. Nạn đói kém, ốm đau, bệnh tật cộng với sự bóc lột hà khắc của chủ nghĩa thực dân, phong kiến nên đời sống của người dân hết sức khốn cùng. Bản thân đồng chí Lê Đức Anh sau một trận dịch đậu mùa không có điều kiện để chữa trị, nên đã hỏng một mắt bên trái, đôi chân yếu ớt phải mất một năm mới đi lại được.
Mặc dù cuộc sống còn nhiều khó khăn, nhưng đồng chí Lê Đức Anh đã sớm được gia đình chăm lo và cho đi học. Lên 5 tuổi, đồng chí được học chữ Nho tại nhà. Từ 6 đến 10 tuổi, đồng chí được học chữ Quốc ngữ tại làng Dưỡng Mong và trường An Lương Đông, huyện Phú Lộc. Trong Hồi ký của mình, đồng chí kể lại “Trường xa nhà, nên buổi sáng đi học tôi thường nhịn đói. Ngày ấy, những đứa học trò nhà quê như chúng tôi không có giày dép, đi đâu cũng chân trần. Trên chặng đường tới trường ở làng Dưỡng Mong (nay thuộc Phú Mỹ, Phú Vang) phải trải qua một trảng cát, những ngày trời nắng, cát bỏng như rang, chúng tôi phải lấy những cái bẹ nan cây tre rồi dùng dây bẹ chuối cột dưới bàn chân để đi qua trảng cát cho đỡ bỏng chân” (1).
Năm đồng chí lên 11 tuổi, nạn đói kém, thất học hoành hành khắp các làng quê Việt Nam như một thứ “giặc nội xâm”. Để không bị gián đoạn việc học, đồng chí Lê Đức Anh được bố mẹ gửi ra Nghệ An sống với gia đình người chị ruột. Bằng những bữa cơm nửa đói, nửa no với củ khoai, củ mỳ, những món “nhút” truyền thống xứ Nghệ và sự động viên hết mực của anh chị, đồng chí đã học hết bậc Tiểu học, rồi quay trở lại quê nhà ở làng Trừng Hà, xã Vinh Phú.
Khi đồng chí Lê Đức Anh đến tuổi trưởng thành, bố mẹ nuôi của thân phụ mẫu cũng lần lượt qua đời. Gia đình đồng chí chuyển về sống tại quê gốc làng Bàn Môn, xã Lộc An, huyện Phú Lộc.
Cũng chính tại quê nhà, đồng chí Lê Đức Anh đã được “dự thính” những cuộc chuyện trò của các bậc cha chú, những người luôn đau đáu với thời cuộc và bắt đầu hun đúc tinh thần cách mạng.
Một trong những người đã định hướng và góp phần vun đắp tinh thần yêu quê hương, đất nước và từng bước hướng đồng chí đến với chủ nghĩa Cộng sản phải kể đến đồng chí Lê Bá Dị (là cậu họ của đồng chí Lê Đức Anh) – Bí thư Chi bộ ghép Phú Vang – Phú Lộc, một trong những Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Thừa Thiên Huế.
Chính đồng chí Lê Bá Dị đã sưu tầm các loại sách báo về tình hình trong và ngoài nước để Lê Đức Anh đọc, khơi gợi tinh thần yêu nước, đấu tranh cách mạng cho đồng chí Lê Đức Anh. Cũng chính vị tiền bối Lê Bá Dị đã kết nạp đồng chí Lê Đức Anh vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).
Nối tiếp truyền thống tốt đẹp của gia đình và quê hương, các anh, chị em của đồng chí Lê Đức Anh sau này đều tích cực tham gia hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Người chị gái đầu là Lê Thị Ngọc Tỷ cùng chồng là ông Trần Mạnh Kiệp (1) đều tích cực tham gia hoạt động trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đều là liệt sỹ. Ông Trần Mạnh Kiệp từng là xã đội trưởng (2). Năm 1947, trong lúc đang làm nhiệm vụ thì ông bị địch truy bắt và hy sinh tại đầm Cầu Hai, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Các con của ông bà sau này đều tích cực tham gia kháng chiến và có một người con trai là liệt sỹ (3).
Người chị thứ chín là Lê Thị Kha cùng chồng là anh Hồ Nguyên, tích cực tham gia hoạt động cách mạng. Anh Hồ Nguyên là một trong những người dìu dắt, giúp đỡ và định hướng cho đồng chí Lê Đức Anh đến với cách mạng. Năm 1937, nghe tin đại diện Chính phủ Pháp sẽ sang điều tra tình hình ở Đông Dương, anh Hồ Nguyên đã giao nhiệm vụ cho đồng chí Lê Đức Anh đi vận động lấy chữ ký của người dân các làng vào danh sách yêu cầu đối với thực dân Pháp. Sau cuộc vận động, anh là người đã giới thiệu để kết nạp đồng chí Lê Đức Anh vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1947, anh bị chỉ điểm, bị địch bắt và hy sinh không lâu sau đó (1).
Em gái của đồng chí Lê Đức Anh – bà Lê Thị Xoan (thường gọi là Soan), tham gia cách mạng từ lúc còn trẻ. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, bà làm cán bộ Hội Phụ nữ cứu quốc huyện Phú Lộc. Trong kháng chiến chống Mỹ, bà làm Bí thư Chi bộ Bàn Môn và bám trụ hoạt động trong một thời gian dài, sau đó bị địch bắt, kết án và giam vào lao Thừa Phủ 3 năm. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bà công tác tại trường
Trung cấp Y tế Huế.
Ngày nay, tiếp nối truyền thống tốt đẹp của các thế hệ cha ông, con cháu dòng họ Lê không ngừng nỗ lực, phấn đấu trong công cuộc xây dựng và phát triển quê hương, đất nước ngày càng phồn vinh, giàu đẹp, xứng đáng với sự hy sinh và lòng mong mỏi của các bậc sinh thành và tiền nhân.
Gia tộc họ Lê – nơi đã sản sinh ra người Cộng sản ưu tú, tài năng xuất sắc Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh, là một gia tộc có truyền thống hiếu học từ nhiều đời, có nhiều người từng làm quan dưới các triều đại phong kiến và có nhiều đóng góp cho dân tộc. Dưới chế độ thực dân, đế quốc xâm lược, mặc dù có lúc phải chịu nhiều khó khăn, gian khổ, nhưng đây là một trong những gia đình, dòng họ luôn giữ vững bản lĩnh, chí khí kiên
trung, luôn giữ vững phẩm chất và lý tưởng vì sự nghiệp cách mạng, đóng góp tích cực vào công cuộc đấu tranh giải phóng quê hương, đất nước. Đúng như Gia phả họ Lê đã biên chép lại: “Tổ tiên ta có lúc hy sinh, gian khổ mà đầy khí phách, có lúc lầm than, khó nhọc, rầy đây, mai đó, nhưng cũng có lúc vinh quang, chói lọi với non sông”. Đây thực sự là một gia tộc đã góp phần làm rạng rỡ truyền thống đấu tranh cách mạng của quê hương Phú Lộc nói riêng và Thừa Thiên Huế nói chung trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng quê hương, đất nước.











Thượng tá Ngô Nam Cường(1)
Đại tướng Lê Đức Anh, người con ưu tú của quê hương Thừa Thiên Huế đã trọn đời phấn đấu, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và Nhân dân ta. Đánh giá về Đại tướng Lê Đức Anh, đồng chí Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí thư Đảng ta đã nhận định: “Anh Lê Đức Anh là một trong những nhà chính trị tầm cỡ, nhà quân sự lớn của Đảng và Nhân dân ta… Vốn là cán bộ chỉ huy quân đội, đã trải qua thực tế chiến đấu gian khổ của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và 10 năm làm nhiệm vụ quốc tế giúp nước bạn Campuchia, nên ở anh quan điểm giai cấp rất vững vàng và rõ ràng… Sinh hoạt và lối sống thì giản dị, mẫu mực” (2).
Quá trình hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú, cùng những cống hiến xuất sắc của đồng chí Lê Đức Anh là một tấm gương sáng về phẩm chất của người cán bộ cách mạng. Chính trong lời kết của cuốn Hồi ký Đại tướng Lê Đức Anh – Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng, đồng chí đã viết: “Từ thực tiễn hoạt động cách mạng của mình, tôi rút ra được đôi điều tâm huyết là phải luôn luôn rèn luyện, phấn đấu thường xuyên, liên tục, quá trình rèn luyện cần hội tụ ba yếu tố. Thứ nhất, luôn học tập không ngừng nâng cao tri thức mọi mặt, đặc biệt là học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, lối sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thứ hai, thường xuyên rèn luyện bản lĩnh, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân, trước cán bộ, chiến sỹ và trước cấp trên. Trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, lập trường cách mạng, cần có sự mềm dẻo, linh hoạt trong từng trường hợp cụ thể, năng động, sáng tạo để đạt được hiệu quả cao nhất trong chỉ đạo thực hiện Nghị quyết của Đảng và mệnh lệnh của cấp trên. Thứ ba, luôn rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng của người chiến sỹ Cộng sản, có tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, luôn đặt lợi ích cách mạng lên trên hết. Mọi suy nghĩ và hành động phải xuất phát từ lợi ích chung của Đảng, của Nhân dân, của dân tộc; luôn phấn đấu vì lợi ích của Nhân dân và của cả dân tộc, hết lòng thương yêu, gắn bó với Nhân dân, với Tổ quốc thì dù khó khăn, gian khổ, ác liệt và nguy hiểm đến mấy chúng ta cũng vượt qua được” (1).
Hơn 80 năm hoạt động cách mạng không biết mệt mỏi, vượt qua bao cam go, thử thách khốc liệt của chiến tranh, dù ở bất kỳ cương vị công tác, điều kiện, hoàn cảnh nào, đồng chí Lê Đức Anh vẫn luôn trung thành với lý tưởng cách mạng, với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Tuyệt đối trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Là cán bộ lão thành cách mạng, được tôi luyện, vào sinh ra tử, trưởng thành qua các cuộc kháng chiến và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, đồng chí luôn giữ vững ý chí, phẩm chất của người chiến sỹ Cộng sản, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; không ngừng rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, nâng cao tri thức, sáng tạo, sắc sảo, quyết đoán và hành động quyết liệt trong mọi công việc. Đồng chí không ngừng phấn đấu, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, luôn thể hiện rõ phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, đặt lợi ích của Đảng, Tổ quốc và Nhân dân lên trên hết.
Những phẩm chất cao quý của người chiến sỹ cách mạng, cùng những tri thức quân sự của Đại tướng là tấm gương sáng cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nói chung và cho quân, dân tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng học tập, noi theo. Từ trước đến nay, đặc biệt sau khi Đại tướng qua đời, với lòng tiếc thương vô hạn, lòng thành kính, sự tri ân sâu sắc với những đóng góp to lớn của Đại tướng với đất nước, với quê hương và sự quan tâm của Đại tướng dành cho Thừa Thiên Huế, cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang tỉnh nhà tích cực học tập, noi gương Đại tướng Lê Đức Anh, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Trong những năm qua, lực lượng vũ trang tỉnh nhà đã đạt được kết quả nổi bật là: Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh tích cực, chủ động tham mưu, đề xuất với Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân tỉnh quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Quân khu về nhiệm vụ quốc phòng và công tác quân sự địa phương, mà trọng tâm là Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 22/9/2008 của Bộ Chính trị (khóa X) về “Tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới”; Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25/10/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và các Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng: Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng, nắm, dự báo tình hình, tham mưu, xử lý tốt các tình huống xảy ra, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện cho tỉnh Thừa Thiên Huế phát triển kinh tế – xã hội. Chất lượng tổng hợp, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang tỉnh từng bước được nâng lên, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và xây dựng khu vực phòng thủ trong tình hình mới.
Đội ngũ cán bộ, chiến sỹ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Công tác hậu cần, kỹ thuật được triển khai chặt chẽ, đồng bộ, bảo đảm kịp thời cho các nhiệm vụ của lực lượng vũ trang tỉnh. Công tác xây dựng Đảng bộ được chú trọng, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo nhiệm vụ trong mọi tình huống. Nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu trong thực hiện nhiệm vụ
chính trị, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, phòng chống đại dịch Covid-19, thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn đã dũng cảm hy sinh vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của Nhân dân. Một lần nữa, những hành động, nghĩa cử cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” trong cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang tỉnh Thừa Thiên Huế được tỏa sáng, lan tỏa…
Trong những năm tới, dự báo xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển, nhưng gặp nhiều trở ngại. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trong nhiều lĩnh vực. Ở trong nước, ổn định chính trị và kinh tế vĩ mô tiếp tục là nền tảng quan trọng thúc đẩy sự phát triển đất nước. Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 54-NQ/TW, ngày 10/12/2019 về xây dựng và phát triển Thừa Thiên Huế đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đã tạo ra những tiền đề, định hướng quan trọng để xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Tuy nhiên, những diễn biến phức tạp của thế giới, khu vực, của dịch bệnh Covid khiến cho nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ chủ quyền quốc gia rất nặng nề. Biến đổi khí hậu, thiên tai khó lường, cũng ảnh hưởng lớn tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong tỉnh.
Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh; noi gương phẩm chất, đạo đức của Đại tướng Lê Đức Anh, lực lượng vũ trang tỉnh nguyện đoàn kết, tập trung hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ.
Thứ nhất, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu. Quán triệt sâu sắc mục tiêu, quan điểm, phương châm chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX, XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội, Quân khu lần thứ XI và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025. Tăng cường công tác giáo dục chính trị – tư tưởng, nâng cao nhận thức chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Đề án đổi mới, nâng cao công tác giáo dục chính trị tại đơn vị của Tổng cục Chính trị; xây dựng cho cán bộ, chiến sỹ có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Có ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao phó. Chủ động đấu tranh phòng, chống có hiệu quả chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, “Tự diễn biến – tự chuyển hóa” và âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Thực hiện tốt phong trào thi đua gắn với thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, chỉ tiêu của cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” và việc học tập, noi theo tấm gương Đại tướng Lê Đức Anh. Chăm lo xây dựng, củng cố các tổ chức trong lực lượng vũ trang tỉnh vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ.
Thứ hai, chú trọng thực hiện nghiêm túc các quy định về tổ chức biên chế bảo đảm sự ổn định, hợp lý, tinh gọn, đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ; ưu tiên các đơn vị sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, làm nhiệm vụ A2. Đẩy mạnh xây dựng chính quy, quản lý, rèn luyện kỷ luật, tạo bước đột phá mới có chiều sâu, vững chắc. Hạn chế thấp nhất các vụ việc vi phạm pháp luật, kỷ luật nghiêm trọng, bảo đảm an toàn tuyệt đối trong toàn lực lượng vũ trang tỉnh.
Thứ ba, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện và khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang tỉnh. Lãnh đạo, chỉ đạo duy trì chấp hành nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu ở tất cả các cấp. Thường xuyên nắm chắc tình hình, tham mưu, phối hợp với các lực lượng, nhất là lực lượng công an, bộ đội biên phòng xử lý có hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ, nhất là trên tuyến biên giới, tuyến biển và các địa bàn trọng điểm. Chú trọng đổi mới tổ chức, nội dung và phương pháp huấn luyện, đào tạo phù hợp với vũ khí, trang bị, phương tiện hiện có. Tập trung chỉ đạo công tác tổ chức, điều hành huấn luyện, các mặt đảm bảo hậu cần, kỹ thuật, tài chính… tạo sự chuyển biến tích cực về chất lượng huấn luyện cho lực lượng thường trực, dân quân tự vệ và dự bị động viên.
Thứ tư, tham mưu, hướng dẫn, thực hiện tốt việc kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh; quốc phòng – an ninh với phát triển kinh tế – xã hội và thực hiện tốt nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng. Quan tâm đầu tư xây dựng các công trình trong khu căn cứ hậu phương của tỉnh và các địa phương cấp huyện. Quy hoạch, lập dự án đầu tư xây dựng căn cứ hậu cần, kỹ thuật khu vực phòng thủ cấp huyện gắn với quy hoạch thế
trận quân sự, quốc phòng. Tiếp tục đầu tư xây dựng doanh trại các cơ quan, đơn vị bảo đảm cơ bản, chính quy, xanh, sạch, đẹp. Đáp ứng đầy đủ, kịp thời số lượng, chất lượng, đồng bộ vũ khí, trang bị kỹ thuật. Tập trung ưu tiên các bộ phận trọng yếu, chuyên trách trong thực hiện các nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, diễn tập và phòng, chống cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai…
Thứ năm, tăng cường mối quan hệ đoàn kết, thống nhất giữa cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang tỉnh với cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể và Nhân dân địa phương. Tích cực tuyên truyền, vận động Nhân dân quán triệt, chấp hành nghiêm mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tạo sự đồng thuận trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, tăng cường quốc phòng – an ninh ở các địa phương, cơ sở. Chủ động nắm bắt tình hình, phát hiện sớm và tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương giải quyết tốt các vấn đề mâu thuẫn, bức xúc trong nội bộ Nhân dân, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng, kích động Nhân dân làm phức tạp tình hình. Thực hiện tốt công tác dân vận, tuyên truyền đặc biệt, công tác chính sách hậu phương quân đội; phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Xóa đói, giảm nghèo”. Quan tâm đầu tư, thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua “Lực lượng vũ trang tham gia xây dựng nông thôn mới”, “Không để ai bị tụt lại phía sau”… xứng đáng là lực lượng nòng cốt, chỗ dựa tin cậy của Đảng bộ, Chính quyền, Nhân dân Thừa Thiên Huế – quê hương của Đại tướng Lê Đức Anh trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trực tiếp góp phần cùng địa phương thực hiện tốt Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 10/12/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Luôn giữ vững ổn định về chính trị, mạnh về kinh tế, tiến bộ về văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh vững chắc trong tình hình mới.
Ngày nay, sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc có bước phát triển mới. Bên cạnh những thời cơ, thuận lợi cũng còn nhiều khó khăn, thử thách. Yêu cầu về chấn chỉnh lực lượng quân đội phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước đang đặt ra những vấn đề mới cần quan tâm giải quyết. Quán triệt tư tưởng, quan điểm của đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh, cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang tỉnh Thừa Thiên Huế tiếp tục rèn luyện, trau dồi bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân; tinh thần cách mạng tiến công; không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, trình độ sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong mọi tình huống. Đồng thời, tích cực chấn chỉnh tổ chức lực lượng theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, bảo đảm nâng cao sức mạnh chiến đấu, phù hợp với yêu cầu của nghệ thuật tác chiến hiện nay. Tập trung xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh Nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ, “thế trận lòng dân” vững chắc. Đẩy mạnh chống “Diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa quân đội” và những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống “Tự diễn biến – tự chuyển hóa” trong nội bộ, xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Thân thế và sự nghiệp của Đại tướng Lê Đức Anh là tấm gương sáng ngời chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, đoàn kết nghĩa tình; cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Đại tướng, cán bộ, chiến sỹ toàn quân và lực lượng vũ trang tỉnh Thừa Thiên Huế cần ra sức học tập, rèn luyện, công tác, tiếp nối để xứng đáng với những di sản và sự nghiệp vẻ vang của Đại tướng Lê Đức Anh để lại, phấn đấu xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, góp phần đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Nguyễn Văn Mạnh(1)
Phú Lộc là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử – văn hóa và cách mạng, có vị trí địa chính trị – kinh tế quan trọng của tỉnh Thừa Thiên Huế; với diện tích tự nhiên 720,9 km vuông, địa hình chia cắt phức tạp, với bờ biển dài trên 60km, diện tích vùng đầm phá hơn 12.000 ha, có nơi núi kéo dài ra biển; nằm trên tuyến quốc lộ 1A dài gần 65km và trên tuyến hành lang kinh tế Đông – Tây thông ra biển thông qua cảng nước sâu Chân Mây; là nơi hội đủ các điều kiện, tiềm năng, thế mạnh về rừng, đồng bằng, biển và đầm phá với nhiều địa danh, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp.
Hiện nay, toàn huyện có 15 xã, 02 thị trấn, dân số khoảng 130.000 người. Đảng bộ huyện có 39 tổ chức cơ sở đảng (29 đảng bộ, 10 chi bộ) với 305 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở, tổng số đảng viên là 3.945 đồng chí.
Trong suốt chiều dài lịch sử, nhân dân Phú Lộc đã trải qua biết bao thăng trầm để xây dựng và bảo vệ quê hương. Núi rừng, đèo dốc, đầm phá, biển cả, cùng với các cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng như Bạch Mã, Hải Vân, Phú Gia, Phước Tượng, đầm Cầu Hai, Lăng Cô, núi Truồi, sông Truồi… luôn gắn liền với mồ hôi, xương máu, trí tuệ của Nhân dân Phú Lộc, ghi dấu bước phát triển của con người nơi đây. Bằng sức lao động cần cù, sáng tạo, Nhân dân Phú Lộc từ xa xưa đã tạo ra trên quê hương mình những sản phẩm và ngành nghề truyền thống nổi tiếng như: đóng thuyền Diêm Trường, tơ tằm Mỹ Lợi, bánh ướt, bánh lọc, dâu Truồi, chè Truồi… Sông Truồi, sông Nong trở thành tuyến giao thông đường thủy từ rừng tới biển, nối liền đầm phá Cầu Hai, Lăng Cô giàu hải sản với vùng núi cao nhiều lâm sản, phục vụ giao thương hàng hóa của địa phương.
Đất và người Phú Lộc ngay từ thuở các bậc tiền nhân “khai sơn, phá thạch” đã thể hiện chí kiên cường, tinh thần đoàn kết, nhân ái, bao dung trong quá trình đấu tranh chống thiên tai, địch họa, xây dựng cuộc sống. Quá trình đó đã hình thành nên nhiều làng quê có bề dày văn hóa và nổi tiếng bởi truyền thống hiếu học như: làng Bàn Môn (xã Lộc An), làng Mỹ Lợi (xã Vinh Mỹ)… là nơi sản sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt, nhiều nhà yêu nước và cách mạng nổi tiếng, trong đó có Đại tướng Lê Đức Anh – một nhà chính trị, quân sự tài năng, người con ưu tú của quê hương Phú Lộc.
Đại tướng, Chủ tịch nước Lê Đức Anh, sinh ra ở làng Trừng Hà, huyện Phú Vang, quê gốc ở xứ Truồi, làng Bàn Môn (Lộc An, Phú Lộc). Làng Bàn Môn là nơi có truyền thống yêu nước và cách mạng, nơi thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên ở nông thôn của tỉnh Thừa Thiên Huế. Tuổi thơ của ông gắn bó với xứ Truồi với những vườn cây trái xanh tươi, cho quả ngọt bốn mùa, nơi có núi Truồi, sông Truồi thơ mộng. Chính con sông Truồi trong xanh, hiền hòa đã nuôi dưỡng tâm hồn tuổi thơ của ông.
Sinh ra và lớn lên trong chế độ thuộc địa nửa phong kiến, phải chứng kiến cảnh người dân sống cơ cực, lầm than, đã hun đúc trong ông lòng yêu nước nồng nàn, lòng căm thù giặc sâu sắc và tinh thần đấu tranh cách mạng triệt để. Sớm được tiếp xúc với những người yêu nước và cách mạng, ở tuổi thiếu niên, ông được nghe cậu Giảng và Lê Bá Dị nói chuyện về chuyện nước, về các danh nhân yêu nước như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, về đệ tam Quốc tế Cộng sản, về Nguyễn Ái Quốc tham gia phong trào đấu tranh giành độc lập cho đất nước, tự do cho dân tộc… Ông đã bắt đầu giác ngộ và chính thức tham gia hoạt động cách mạng lúc mới 17 tuổi, bắt đầu từ việc đọc sách báo đến việc tuyên truyền, vận động trong quần chúng Nhân dân. Ngày 01/5/1938, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương khi mới 18 tuổi. Có thể nói, mảnh đất quê hương hun đúc nên tinh thần yêu nước, đi theo con đường đấu tranh cách mạng của Đại tướng Lê Đức Anh. Cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng gắn liền với nhiều mốc son lịch sử của dân tộc. Đại tướng đã mang hết sức lực, trí tuệ và phẩm chất của người Cộng sản để hiến dâng cho sự nghiệp cách mạng đầy gian khổ, hy sinh, nhưng rất đỗi vẻ vang, tự hào; góp phần làm rạng rỡ quê hương Phú Lộc anh hùng. Đảng bộ và Nhân dân Phú Lộc không chỉ tự hào về vùng đất đã đi vào thơ ca, mà còn tự hào có một người con là vị tướng tài ba, nhà lãnh đạo xuất sắc như Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nguyên Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, với vị trí chiến lược quan trọng về quân sự, nên bọn thực dân, đế quốc và tay sai đã bố trí trên địa bàn huyện Phú Lộc nhiều đồn bốt, cứ điểm được trang bị kỹ thuật quân sự tối tân, cùng với một lực lượng dày đặc để đàn áp phong trào cách mạng của Nhân dân ta. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ, Phú Lộc là một chiến trường ác liệt, nhưng cán bộ, đảng viên và lực lượng vũ trang của huyện nhà vẫn kiên cường bám đất, bám dân để xây dựng phong trào, sáng tạo nhiều cách đánh hiệu quả, hỗ trợ tích cực cho phong trào kháng chiến ở Thừa Thiên Huế, góp phần cùng cả nước đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi hoàn toàn. Trải qua 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, phong trào cách mạng ở Phú Lộc có lúc thăng, lúc trầm bởi sự đàn áp dã man của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Là một trong những chiến trường gay go, ác liệt, chịu nhiều mất mát, hy sinh to lớn, song cán bộ, quân và dân huyện Phú Lộc đã nắm chắc, vận dụng sáng tạo phương châm “Đảng bám dân, dân bám đất, du kích bám địch, trên bám dưới”, từng bước khôi phục lại phong trào, từng bước tạo thế và lực, củng cố và xây dựng lực lượng cách mạng ở địa phương, đẩy mạnh chiến đấu, diệt ác, trừ gian, giải phóng nhiều vùng, làm cơ sở cho việc lấy nông thôn bao vây thành thị, đánh cắt giao thông, ngăn chặn việc tiếp viện của địch từ Đà Nẵng ra Trị Thiên Huế, là chiến trường mở đầu và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968). Đặc biệt, năm 1975, trước khí thế cách mạng của toàn miền Nam, thực hiện mệnh lệnh chiến đấu thần tốc, táo bạo của Quân khu Trị Thiên Huế, quân và dân huyện Phú Lộc đã phối hợp với chiến trường toàn tỉnh tham gia nhiều chiến dịch trên các vùng ở khu 1, khu 2, khu 3 và toàn huyện; đã tiêu hao và tiêu diệt nhiều sinh lực địch, làm cho địch hoang mang, dao động, buộc chúng phải co cụm phòng thủ, tạo điều kiện cho ta làm chủ nhiều vùng. Sáng ngày 24/3/1975, quân và dân Phú Lộc phối hợp với các lực lượng đồng loạt tiến công địch, giải phóng hoàn toàn huyện Phú Lộc; góp phần giải phóng hoàn toàn Thừa Thiên Huế vào ngày 26/3/1975 và thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Phú Lộc đã lập được nhiều chiến công xuất sắc. Toàn huyện có 12.450 người con thoát ly tham gia kháng chiến, đã có 2.358 liệt sỹ, gần 500 thương bệnh binh, hàng nghìn gia đình có công với nước. Hàng nghìn người con thân yêu của mọi miền đất nước đã chiến đấu trên quê hương Phú Lộc và đã hy sinh xương máu, đóng góp sức người, sức của cho cách mạng.
Những sự hy sinh anh dũng và chiến đấu oanh liệt đó của quân và dân huyện Phú Lộc đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận, phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân. Bên cạnh đó, toàn huyện có 11 xã, thị trấn và đơn vị Công an huyện được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân. Có 05 cá nhân được phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân; 307 Bà mẹ Việt Nam anh hùng; 01 Huân chương Quân công hạng Nhì; 02 Huân chương Quân công hạng Ba; 01 Huân chương Chiến công hạng Nhất; 01 Huân chương Thành đồng Tổ quốc hạng Ba; 02 Huân chương Giải phóng hạng Nhất và Nhì, cùng hàng trăm huân, huy chương cho các tập thể, cá nhân. Những chiến công, sự hy sinh to lớn của các thế hệ đảng viên, cán bộ, quân và dân huyện Phú Lộc đã góp phần tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của quê hương, để lại lòng biết ơn, niềm vinh dự, tự hào cho các thế hệ mai sau.
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mặc dù phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách để khắc phục hậu quả chiến tranh, đói nghèo, lạc hậu, song Đảng bộ, Chính quyền, Nhân dân toàn huyện đã nỗ lực vượt qua để chiến thắng đói nghèo, lạc hậu và đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội.
Cùng với tiến trình đổi mới đất nước từ 1986 đến nay, tình hình kinh tế – xã hội của huyện liên tục phát triển. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện luôn đạt cao hơn mức bình quân chung của tỉnh, bình quân hàng năm đạt trên 14%. Từ một huyện thuần nông, đến nay lĩnh vực du lịch – dịch vụ và công nghiệp – xây dựng chiếm tỷ trọng 93,6% trong cơ cấu kinh tế. Tỷ trọng nông nghiệp chỉ còn 6,4%. Nhiều dự án du lịch, sản xuất công nghiệp có quy mô lớn đã được triển khai và đi vào hoạt động, đặc biệt là các dự án tại Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô, Khu công nghiệp La Sơn. Tổng lượng khách du lịch đến Phú Lộc (trước khi bị ảnh hưởng dịch Covid-19) đạt hơn 1 triệu lượt khách/năm. Nông nghiệp phát triển theo hướng khai thác tiềm năng, lợi thế của vùng biển và đầm phá. Đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, sản xuất theo hướng hàng hóa. Tổng thu ngân sách đạt trên 600 tỷ đồng/năm, trong đó thu cân đối ngân sách 200 tỷ đồng. Bộ mặt đô thị và nông thôn thay đổi rõ rệt; kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội được quan tâm đầu tư (tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2016 – 2020 gần 35.000 tỷ đồng), góp phần khai thác và phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương về phát triển dịch vụ – du lịch.
Các lĩnh vực kinh tế – xã hội có nhiều hoạt động sôi nổi, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị địa phương và nhu cầu của Nhân dân. An ninh xã hội được bảo đảm; đời sống của Nhân dân được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn đa chiều) giảm còn 4,1%; thu nhập bình quân đầu người đạt 62,5 triệu đồng/người/năm. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ được nâng cao; hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh. Nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh Nhân dân được xây dựng, củng cố vững chắc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Trong sự phát triển và đi lên của Phú Lộc luôn có những tình cảm đặc biệt của Đại tướng Lê Đức Anh dành cho quê hương. Mặc dù sống xa quê và bận rộn công tác, nhưng trong những lần về thăm quê, Đại tướng luôn có nhiều trăn trở và gợi mở giúp quê hương khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế – xã hội.
Khắc ghi lời căn dặn của Đại tướng, nhiều năm qua, Đảng bộ, Chính quyền, Nhân dân và các lực lượng vũ trang toàn huyện đã không ngừng nỗ lực thi đua lao động, sản xuất, ra sức xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Tháng 9/2018, xã Lộc An – quê hương Đại tướng đã được Ủy ban Nhân dân tỉnh công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới. Đến nay, toàn huyện đã có 8/14 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Những kết quả trên tuy chỉ là bước đầu, song rất đáng tự hào, là những tiền đề cơ bản và quan trọng để Phú Lộc tiếp tục phát triển nhanh và toàn diện hơn trong thời gian tới.
Thể theo nguyện vọng của Đảng bộ, Chính quyền, Nhân dân và các lực lượng vũ trang huyện Phú Lộc, để tôn vinh, ghi nhớ công lao to lớn của Đại tướng, năm 2011, Đảng và Nhà nước đã xây dựng Nhà văn hóa Đại tướng Lê Đức Anh tại quê hương Đại tướng (Lộc An, Phú Lộc). Nhà văn hóa được khánh thành và đưa vào sử dụng vào năm 2012. Đây là địa chỉ đỏ để tuyên truyền, giáo dục truyền thống vẻ vang của Đảng, Nhà nước, Quân đội Nhân dân Việt Nam và là nơi lưu giữ nhiều tư liệu, sách, ảnh quý giá về cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của Đại tướng Lê Đức Anh. Từ khi đưa vào sử dụng, nhà văn hóa đã đón từ 20.000 đến 25.000 lượt khách/năm đến tham quan, tìm hiểu, nghiên cứu và học tập.
Tự hào với những truyền thống vẻ vang của quê hương, đất nước; noi gương, học tập Đại tướng Lê Đức Anh, Đảng bộ, Chính quyền, Nhân dân và các lực lượng vũ trang huyện Phú Lộc tiếp tục phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước. Trong nhiệm kỳ 2020 – 2025, Đảng bộ huyện Phú Lộc xác định tập trung phát huy tinh thần đổi mới tư duy, huy động và sử dụng tốt các nguồn lực để phát triển toàn diện các lĩnh vực, trong đó góp phần cùng với tỉnh nhà xây dựng, phát triển Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô sớm trở thành đô thị loại 3, gắn phát triển kinh tế với đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường; gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của địa phương; chăm lo cho các gia đình chính sách, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội. Mục tiêu tổng quát đến 2025, xây dựng Phú Lộc thành vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh Thừa Thiên Huế ngày càng giàu đẹp, văn minh.



Lê Mạnh Hà(1)
Vào một ngày cuối năm 1973, đi học về tôi thấy nhiều xe ôtô đỗ quanh nhà, chưa bao giờ tôi thấy cảnh này. Mẹ tôi nói: “Ba về, đang làm việc với các chú, các bác”. Những lần trước, ba tôi từ chiến trường về Hà Nội lặng lẽ hơn, không có cảnh xe cộ đến nhà như thế, mà Hà Nội lúc đó ít ôtô lắm, chỉ có xe cơ quan và lãnh đạo cấp cao mới đi ôtô. Lần này thì khác hẳn, tôi cũng không hiểu chuyện gì. Một thời gian sau, ba tôi lại vào Nam và có một hôm, mấy mẹ con nghe tin ba tôi được phong hàm vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng. Tôi tự hào lắm.
Lúc đó, vẫn còn rất ít người biết đến đồng chí Lê Đức Anh là ai. Trước đó nữa, thì càng ít người biết và còn nhầm lẫn ông Lê Đức Anh với người khác. Tôi nhớ, hồi ký Hiệp định Paris (01/1973), thành lập Ban Liên hợp quân sự bốn bên, đại diện đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là đồng chí Hoàng Anh Tuấn. Nhiều người nói với mẹ tôi đây chính là ông Lê Đức Anh. Cả nhà bán tín, bán nghi, sau biết là không phải.
Chiến dịch giải phóng Sài Gòn, ba tôi chỉ huy một trong năm cánh quân đánh trận cuối cùng này. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng có mấy ngày, mẹ tôi được vào thăm ba, được đi cùng chuyến bay với một số đồng chí lãnh đạo cấp cao nào đó, tôi không nhớ. Mẹ vui và tự hào vô cùng. Lúc về Hà Nội, mẹ tôi kể đi, kể lại chuyện gặp ba và chuyện về Sài Gòn lạ lắm, vô cùng lạ lẫm với những người miền Bắc.
Cả nhà vui sướng và hãnh diện hơn nữa khi biết ba tôi được chỉ huy cuộc diễu hành hoành tráng vào ngày Quốc khánh thống nhất đầu tiên, ngày 02/9/1975 tại Thủ đô Hà Nội rực rỡ cờ hoa.
Mãi sau này tôi mới biết, để được phong vượt cấp lên Trung tướng và được dẫn đầu đoàn quân chiến thắng diễu binh trên quảng trường Ba Đình, ba tôi đã từng bị “cấp trên phê bình” vì đã không thực hiện “năm cấm chỉ” sau ngày Hiệp định Paris (27/01/1973) đã ký kết: cấm tấn công vũ trang, cấm bao vây đồn bốt, cấm đánh địch bung ra, cấm phản kích, cấm làm “xã, ấp chiến đấu”. Quân và dân Khu 9 đã kiên quyết nổ súng đánh trả đối phương lấn chiếm và chủ động tấn công để giữ vững và mở rộng vùng giải phóng của Quân khu 9.
Quân khu 9 đã không thực hiện đúng mệnh lệnh của cấp trên, nhưng thực hiện đúng Nghị quyết Trung ương 15 (1959) của Đảng ta là phải đấu tranh vũ trang để thống nhất đất nước. Kết quả hoạt động của quân và dân Khu 9 là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết 21 (ngày 13/10/1973), với nội dung chủ yếu là tiếp tục con đường bạo lực cách mạng để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Nếu như không có Nghị quyết Trung ương 15, nếu như năm 1973, chúng ta không kiên quyết tiếp tục thực hiện Nghị quyết 15, có lẽ đất nước chúng ta vẫn còn chìm trong đau khổ của chia cắt. Nhìn sang các nước, vùng lãnh thổ khác như Hàn Quốc – Triều Tiên, như Trung Quốc – Đài Loan, chúng ta càng thấy tự hào. Trong niềm vui chung của dân tộc, trong vinh quang của Tổ quốc, gia đình tôi thật hãnh diện, thật tự hào khi cha mình đã góp phần quan trọng, tạo nên bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và tham gia chỉ huy trận đánh cuối cùng để thống nhất đất nước.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ba tôi đã trực tiếp tham gia và chỉ huy many chiến dịch lớn: Đánh bại cuộc hành quân mang tên Gianxơn xity của Mỹ năm 1967; Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân – 1968; chống địch lấn chiếm, phá hoại Hiệp định Paris năm 1973 trên địa bàn Quân khu 9; giải phóng tỉnh Phước Long năm 1974 và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử tháng 4/1975.
Sau hơn 10 năm xa cách, gia đình chúng tôi được đoàn tụ, những tưởng là từ nay đất nước hoàn toàn im tiếng súng. Thế nhưng, chỉ sau hai năm, đúng ngày 30/4/1977, tiếng súng lại nổ trên toàn tuyến biên giới Tây Nam đất nước. Và từ năm 1979, ba tôi – Trung tướng Lê Đức Anh lại ra chiến trường, lần này là chiến trường ở nước bạn Campuchia.
Ông xa nhà hơn 10 năm để đánh Mỹ và ông lại tiếp tục xa nhà hơn 10 năm nữa để bảo vệ biên giới Tây Nam và ổn định biên giới phía Bắc.
Năm 1963, mặc dù lúc đó còn rất bé, nhưng tôi vẫn nhớ cảnh ba cầm khẩu súng được phát trước khi đi B chĩa lên trời qua cửa sổ ngôi nhà số 32 – Điện Biên Phủ, thành phố Hà Nội. Ba đi vào Nam chiến đấu lúc nào, chúng tôi không hề biết, chỉ nhớ nhà còn mấy mẹ con. Ba đi biền biệt, có mấy lần ra công tác và được thăm vợ con. Ba đi bằng đủ loại phương tiện: tàu không số, tàu đánh cá, vượt Trường Sơn, đi máy bay của Hoàng gia Campuchia… Hiểm nguy luôn rình rập trên đường ba tôi đi.
Bảy năm ba tôi ở chiến trường Campuchia thì khác. Quân đội ta lớn mạnh, làm chủ chiến trường cả trên bộ, lẫn trên không, nên điều kiện đi lại của sỹ quan, chiến sỹ cũng thuận lợi hơn. Ông bay liên tục về Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội công tác. Các chuyến bay đến các mặt trận, đến các chốt của ông thì rất nhiều, chúng tôi được nghe kể lại thế. Ở nhà vẫn nói đùa rằng, ông bay nhiều hơn cả phi công. Bây giờ nghĩ lại thấy lo cho ba, mặc dù sự việc đã lùi xa nhiều năm rồi, ngày đó máy bay chưa hiện đại, điều kiện bảo trì, bảo dưỡng không thể bằng bây giờ, nên độ an toàn khó mà cao.
Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia 10 năm. Sao lại lâu thế? Thậm chí có ý kiến chỉ trích, cho rằng Việt Nam đã sa lầy ở Campuchia. Ba tôi là người ủng hộ mạnh mẽ việc quân tình nguyện Việt Nam ở lại Campuchia và ông cũng là người chủ trương phải rút hết khi Chính phủ Campuchia đã lớn mạnh, đã tự đảm đương được và biên giới phía Bắc đã im tiếng súng.
Nếu không làm cho tàn quân Pôn Pốt tan rã, suy tàn và lực lượng cách mạng Campuchia chưa đủ mạnh, thì đến một lúc nào đó bè lũ diệt chủng sẽ quay trở lại cướp chính quyền, tiếp tục cướp phá, xâm lấn biên giới với nước ta, giết hại đồng bào ta. Để làm tan rã tàn quân lẩn trốn ở rừng núi và thậm chí trú ẩn ở biên giới Thái Lan cần phải mất nhiều năm. Lực lượng cách mạng Campuchia cũng rất cần nhiều năm để trưởng thành. Là một người lính, ba tôi mong muốn chiến tranh kết thúc thật nhanh để máu đồng đội không tiếp tục đổ xuống. Là người cha, ông mong muốn được ở bên gia đình, vợ con. Thế nhưng, cuộc chiến này là bắt buộc.
Một số nước tự đặt ra “tiêu chuẩn kép”. Họ tấn công, chiếm đóng nước khác ở xa ngàn dặm với lý do để bảo vệ an ninh của quốc gia họ. Thế nhưng, khi chúng ta tấn công để tự vệ, tấn công để xóa bỏ chế độ diệt chủng và chúng ta ở lại để giúp đất nước Campuchia hồi sinh thì họ lên án, cho rằng Việt Nam xâm lược Campuchia, lấy cớ đó để bao vây, cấm vận nước ta.
Cha tôi ba lần được thăng quân hàm cấp tướng, lần thứ nhất trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng. Hai lần sau, từ Trung tướng lên Thượng tướng và từ Thượng tướng lên Đại tướng. Ba tôi được thăng cấp tướng tại chiến trường Campuchia. Như thế đủ để thấy tầm quan trọng cũng như tính khốc liệt của chiến trường này. Lúc đó, ba tôi đang là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã được tham gia vào Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Điều đó, một lần nữa nói lên tầm quan trọng của chiến trường này, cũng như đánh giá đúng, chính xác về phẩm chất và năng lực của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đối với ba tôi.
Thế nhưng, không phải là không có những tin đồn, những thông tin ác ý về ba tôi khi ông làm nhiệm vụ ở Campuchia. Lúc tôi đi học Cao cấp chính trị, trong một lần ngồi uống nước lúc ra chơi, một giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nói, ông Lê Đức Anh là người “gây ra vụ Xiêm Riệp”. Tất nhiên, giảng viên đó không biết ngồi trước mặt ông ta chính là con trai của Đại tướng Lê Đức Anh. Tôi về kể lại với ba chuyện
này, ông nói: “Có những người họ không đủ thông tin nên nói thế, đáng tiếc đây lại là một giảng viên của một trường quan trọng”. Về “sự cố Xiêm Riệp” ông đã viết rõ trong Hồi ký của mình. Lúc đó, vào năm 1983, ba tôi đang chữa mắt ở Liên Xô (sau này vẫn có giai thoại là ông được thay mắt màu xanh của người Nga), thì được đồng chí Lê Đức Thọ thay mặt Bộ Chính trị ký điện gọi về xử lý sai lầm của Bộ Tư lệnh Mặt trận 479. Bộ Tư lệnh 479
dựa vào nguồn tin chưa được thẩm tra, đã đi đến một số quyết định: Bắt giữ những người đứng đầu chính quyền Xiêm Riệp để điều tra, tước vũ khí của du kích bạn, phân tán cán bộ bạn vào bộ đội ta…
Ba đã viết trong Hồi ký, nguyên văn như sau: “Việc đầu tiên là tôi điện lên Mặt trận yêu cầu thả ngay tất cả những người đã bị bắt. Và tôi ra lệnh, kể cả lính Xiêm Riệp đã ra hàng, kể cả những tên bị người ta tố cáo là có tội ác cũng không được đánh đập, ngược đãi, mà phải cho họ ăn uống tử tế, rồi thả cho họ về. Việc thứ hai là tôi yêu cầu tất cả các ngành nộp toàn bộ các bản báo cáo tình hình, các bức điện đi, đến và tôi ngồi đọc hết. Lúc đầu có anh em không hiểu, cho tôi là phản động. Họ nói là “đã hỏi ý kiến của Hà Nội rồi”. Tôi biết, nếu “hỏi ý kiến Hà Nội là của người nào?” thì sẽ rất rối, nên tôi “không hỏi, không biết”, các anh đã tin tưởng giao cho tôi xử lý thì tôi xử lý thôi. Ở đây tôi kiên quyết: Một là, nhất định không hỏi “Hà Nội là ai?”, hai là, chỉ “xử lý” thôi, sau khi xử lý rồi thì nhất định không giải thích nữa.
Khi tôi trở về báo cáo trong Hội nghị Bộ Chính trị toàn bộ sự việc đã giải quyết, thì không ai phát biểu gì; chỉ có anh Phạm Văn Đồng nói “xử lý được thế là tốt, xử lý nội bộ có mức độ thế là đúng”. Thực chất, các cán bộ bên đó đều mong muốn quan hệ giữa hai Đảng ngày càng tốt hơn, nhưng vì nóng vội và ấu trĩ nên phạm khuyết điểm, sai lầm, chứ không hề có ý đồ xấu” (1)
Đảng ta đã nghiêm khắc kiểm điểm và có hình thức kỷ luật thích đáng đối với cán bộ liên quan đến vụ đánh địch ngầm ở Xiêm Riệp. Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta cử Đại tướng Chu Huy Mân, khi ấy là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam đại diện sang xin lỗi Bộ Chính trị Trung ương Đảng bạn.
Ba tôi đã chỉ đạo mở các chiến dịch truy quét tàn quân địch vào các năm 1983, mùa khô 1984 – 1985, làm tan rã một bộ phận lớn sinh lực địch, giữ vững thành quả cách mạng của Campuchia.
Xây dựng tuyến phòng thủ biên giới Campuchia – Thái Lan (K5) dài 800km là một việc quan trọng, nhưng cũng có ý kiến không đồng tình vì cho rằng tốn kém, không hiệu quả. Thực tế tuyến phòng thủ này có tác dụng chia cắt chiến lược ngoại biên và nội địa, ngăn chặn sự xâm nhập từ phía Thái Lan vào Campuchia, tạo điều kiện thuận lợi truy quét địch trong nội địa. Sau này, Việt Nam cũng xây dựng tuyến tuần tra biên giới của mình.
Cuộc chiến đấu của quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia kéo dài và khốc liệt, nhưng được biết đến, nhắc đến, viết trên sách báo và ngay cả trong sử sách chưa nhiều, chưa tương xứng với tầm quan trọng của nó. Mong rằng, điều này sẽ được khắc phục trong thời gian tới. Hội thảo này cũng là dịp để nói về cuộc chiến bắt buộc đó thông qua một nhân vật cụ thể, đó là Đại tướng Lê Đức Anh – người Cha thân yêu của tôi.
Cuối năm 1986, khi tình hình Campuchia tương đối ổn định, ba tôi trở về Bộ Quốc phòng nhận nhiệm vụ mới. Lúc này, mẹ tôi được ở bên ông tại Hà Nội, nhưng gia đình thì lại tiếp tục không được đoàn tụ vì tất cả các con của ba, mẹ đều sinh sống ở Thành phố Hồ Chí Minh. Gia đình tôi rất ít khi có bữa ăn đầy đủ các thành viên.
Biên giới phía Bắc nước ta khi đó rất căng thẳng. Ba tôi đã kiên trì đi thị sát dọc vùng biên giới phía Bắc. Sau đó, theo lời kể của đồng chí Đại tướng Phạm Văn Trà và đồng chí Trung tướng Hoàng Nghĩa Khánh, ba tôi yêu cầu các chốt của ta ngừng bắn trả địch, mà tiến hành địch vận là chính, trong đó có việc bắn pháo truyền đơn, phát loa sang Trung Quốc nhằm làm dịu tình hình. Sau một thời gian, bên kia không bắn pháo sang ta nữa và tình hình ổn định dần.
Tiếp đó, ông ra lệnh rút một số chốt tiếp cận đối phương về phía sau, rồi rút từng phần các đơn vị chủ lực về tuyến hai để đưa dân quân, bộ đội địa phương lên tuyến một. Cán bộ chỉ huy các cấp, từ cấp Quân khu lúc đó rất lo ngại, không dám cho quân dưới quyền lui xuống, nhưng ba tôi rất kiên quyết và lấy trách nhiệm cá nhân đảm bảo cho quyết định này. Trước hành động thiện chí của Việt Nam, đối phương cũng rút dần các chốt cắm trên lãnh
thổ Việt Nam. Tình hình biên giới dần ổn định và khởi đầu cho bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Đại tướng Phạm Văn Trà đã nhận định: Quyết định của ba tôi mang tầm chiến lược, táo bạo và có thể nói “có một không hai”, nhưng rất sáng suốt và đúng đắn.
Với tình hình biên giới căng thẳng như vậy, thì quyết định lui quân chủ lực về phía sau là quyết định hệ trọng. Ba tôi đã đánh giá đúng tình hình, hiểu rõ mối quan hệ Việt – Trung, nắm chắc hiện trạng Campuchia và tin tưởng vào sức mạnh chiến đấu của quân tình nguyện Việt Nam khi ra một quyết định hoàn toàn đúng đắn, táo bạo và khởi đầu cho việc bình thường hóa quan hệ Việt Nam với Trung Quốc.
Vào thời điểm đó, những năm 1987 – 1989, nước ta đang ở trong tình thế “ba bề thọ địch”: Chiến trường Campuchia, biên giới phía Bắc và Biển Đông. Chưa kể, chúng ta bị Mỹ bao vây, cấm vận về kinh tế, bị cô lập về chính trị, ngoại giao. Giải quyết bất kỳ việc nào cũng phải đặt trong mối quan hệ của ba vấn đề này.
Năm 1987, thời gian ba tôi làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, tình hình Biển Đông vô cùng phức tạp. Từ cuối năm 1986, Trung Quốc và Malayxia gia tăng các hoạt động tại khu vực quần đảo Trường Sa. Trung Quốc tăng số lần tàu chiến, tàu vận tải trinh sát, thăm dò tại Trường Sa. Ngày 31/12/1986, Malayxia đến đóng giữ bãi Kỳ Vân và uy hiếp các đảo khác gần đảo Thuyền Chài của Việt Nam.
Trước tình hình đó, trong năm 1987, ba tôi hai lần xuống làm việc với Bộ Tư lệnh Hải quân và trực tiếp làm việc với Vùng 4 Hải quân để giao nhiệm vụ bảo vệ Trường Sa, đóng giữ các đảo chìm. Ngày 05/3/1987, quân ta đã đóng giữ đảo Thuyền Chài.
Ba tôi ký Mệnh lệnh số 1679/ML-QP, ngày 06/11/1987: “Đưa lực lượng ra đóng giữ các bãi cạn chưa có người, không chờ xin chỉ thị cấp trên, trước mắt đưa ngay lực lượng ra đóng giữ đảo Đá Tây, Chữ Thập, Đá Lớn, Tiên Nữ. Khai thác và phát huy khả năng của các lực lượng vũ trang, các ngành, các địa phương để chi viện từ bờ ra đảo xa. Nếu đối phương xâm phạm đảo hoặc dùng vũ lực uy hiếp thì đánh trả và luôn cảnh giác, tỉnh táo, không để mắc mưu địch khiêu khích”.
Mệnh lệnh của ba tôi rất rõ ràng: Mở rộng điểm đóng giữ, kiên quyết đánh trả, nhưng không mắc mưu địch khiêu khích.
Thực hiện Mệnh lệnh trên, từ đầu năm 1988 đến ngày 15/3/1988, quân ta đóng giữ thêm 11 đảo gồm: Đá Tây, Tiên Nữ, Đá Lát, Đá Lớn, Đá Đông, Tốc Tan, Núi Le, Cô Lin, Len Đao, Đá Nam và Đá Thị, nâng tổng số đảo của ta lên 21, gấp hai lần giai đoạn trước đó (10 đảo). Riêng ngày 14/3/1988, ta đóng giữ Cô Lin và Len Đao trong tam giác Cô Lin – Len Đao – Gạc Ma. Ngay sau sự kiện Gạc Ma – Cô Lin – Len Đao, Việt Nam đã đóng giữ thêm 02 đảo là Đá Nam và Đá Thị, mà không xảy ra bất cứ tranh chấp nào.
Sau khi xảy ra sự kiện Gạc Ma – Cô Lin – Len Đao, ba tôi ra thị sát Trường Sa và đã đọc Lời thề bảo vệ biển đảo Tổ quốc, nhân kỷ niệm 33 năm Ngày thành lập Quân chủng Hải quân Việt Nam rằng: “Xin thề trước hương hồn của tổ tiên ta, trước hương hồn các cán bộ, chiến sỹ đã hy sinh vì Tổ quốc, xin hứa với đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu của chúng ta, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa – một phần lãnh thổ, lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu của chúng ta” (1)
Bằng cách đóng quân trên 12 đảo mới (01 đảo năm 1987 và 11 đảo năm 1988), chúng ta đã thực sự làm chủ bờ cõi ở phía Đông.
Đóng quân thực tế khác hẳn với Tuyên bố chủ quyền nhưng không đóng giữ. Khi đã đóng quân, Việt Nam không để mất một tấc đất nào của tổ tiên.
Việt Nam không chỉ thực thi chủ quyền trên quần đảo Trường Sa bằng cách mở rộng điểm đóng giữ, mà còn thực thi quyền chủ quyền và quyền tài phán trên thềm lục địa. Ngày 29/5/1989, ba tôi lại ký Mệnh lệnh số 167/ML-QP về việc đóng giữ thềm lục địa, các bãi đá ngầm (khu DK1) của Việt Nam. Từ tháng 6/1989, Việt Nam liên tục có mặt trên thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển quốc tế 1982.
Hệ thống nhà giàn DK1 của Việt Nam có thể nói là độc đáo và độc nhất, không một nước nào khác có cách khẳng định quyền chủ quyền sáng tạo đến như vậy.
Trong tình thế khó khăn, hiểm nghèo của giai đoạn này, Việt Nam đã làm được những việc rất lớn, những việc có quan hệ chặt chẽ với nhau. Biển Đông mà xảy ra xung đột lớn sẽ dẫn tới căng thẳng ở biên giới. Nếu biên giới phía Bắc không yên thì việc rút toàn bộ quân khỏi Campuchia là mạo hiểm. Nếu không từng bước rút quân khỏi Campuchia thì cũng khó ổn định biên giới phía Bắc. Năm 1982, Việt Nam bắt đầu rút quân từ Campuchia về nước theo kế hoạch, khi bạn đã tự đảm đương được. Năm 1989, khi biên giới phía Bắc và Biển Đông không còn căng thẳng, Việt Nam rút hết quân tình nguyện ra khỏi Campuchia. Hòa bình một lần nữa được lập lại, chúng ta bước vào giai đoạn phát triển mới. Ba tôi đã có đóng góp to lớn vào thành quả này.
Hòa bình rồi, ba tôi lại được giao thêm nhiệm vụ làm ngoại giao, công việc dường như không liên quan gì đến người gần như suốt đời trận mạc như ông. Có lẽ, cấp trên khi giao nhiệm vụ cho ông đã nhận định rằng, những người lính trận mới thật sự hiểu hết cái giá của hòa bình và hơn ai hết họ muốn sống trong hòa bình.
Ba tôi đã được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ mở đường để thiết lập bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, hai nước mà chính ông phải đối mặt ở chiến trường. Ông đã hoàn thành nhiệm vụ trên lĩnh vực mới trong thời gian làm Chủ tịch nước.
Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, Mỹ, gia nhập ASEAN. Các nhà lãnh đạo của thế hệ ông đã đặt nền móng vững chắc cho Việt Nam hội nhập và phát triển.
Sau khi đề xuất và được Bộ Chính trị đồng ý, ba tôi đã ký Lệnh công bố Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, danh hiệu đầy tính nhân văn và riêng có của Việt Nam, nhằm tri ân những bà mẹ của hàng vạn người con đã ngã xuống vì Tổ quốc.
Nghỉ hưu rồi, ba tôi vẫn thường xuyên theo dõi tình hình đất nước. Ông phản đối việc dùng quân đội tham gia cưỡng chế. Ông theo đúng nguyên tắc quân đội có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, quân đội không được cưỡng chế Nhân dân, không được đối đầu với dân.
Tôi viết những dòng này để nói đến những quyết định mang tính bước ngoặt của ba tôi. Viết đầy đủ về cuộc đời, sự nghiệp của ông thật khó, vì ông đã làm được rất nhiều việc, tư liệu thì không đủ. Nhiều việc thực sự tôi cũng chỉ mới tìm hiểu, mới nghiên cứu trong thời gian gần đây, khi ba tôi nằm trên giường bệnh, khi tôi đã nghỉ hưu và sau khi ba mất. Ông không bao giờ nghĩ mình là người vĩ đại. Nhưng với tôi, ông thật sự là người cha vĩ đại.
Khi tiễn biệt cha mình về cõi vĩnh hằng với các đồng đội, tôi đã thưa với ông rằng “Ba đã sống một cuộc sống kiên cường của người chiến sỹ và bình dị như bao người dân khác. Vượt qua bốn cuộc chiến và ba cơn bạo bệnh, ba đã sống gần 100 tuổi. Yêu thương, nghị lực, may mắn và sức sống phi thường đã giúp ba sống thật lâu và thật sự có ích cho đời. Thế nhưng quy luật của muôn đời đã đưa ba đi mãi mãi.
Gia tài ba để lại cho con, cháu thật đồ sộ và quý giá, đó là trái tim nhân hậu của con người dũng cảm. Yêu thương và vị tha, nhân hậu để vị tha. Chúng con thật vinh dự và tự hào được nhận món quà quý giá đó. Cảm ơn ba” (1). Hôm nay, trên quê hương, tôi tự hào được nói về trái tim nhân hậu của “người lính dũng cảm Lê Đức Anh”. Cuộc đời của ông gắn với lịch sử dân tộc. Suốt thời gian đó, đất nước Việt Nam phải đương đầu với bốn cuộc chiến tranh và đã đứng vững, đi lên một cách tự hào. Đại tướng Lê Đức Anh là một trong số ít, rất ít người lính đã đi đến kết thúc của bốn cuộc chiến tranh. Hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới ở hai đầu đất nước và cứu dân tộc Campuchia khỏi thảm họa diệt chủng. Từ người lính đi qua chiến tranh và lên đến vị trí Nguyên thủ quốc gia, một vị trí ông không hề mong muốn, nhưng đã nhận vì đó là trọng trách phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.








Hồ Xuân Mãn (1)
Trong đời mình, tôi vinh dự được gặp Đại tướng Lê Đức Anh nhiều lần, kể từ khi Đại tướng đang là Chủ tịch nước, Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho đến khi nghỉ hưu.
Một lần về thăm quê hương, Đại tướng gợi ý lãnh đạo tỉnh nhà nên xin phép Chính phủ làm cảng Chân Mây, vừa phục vụ kinh tế vừa phục vụ quốc phòng và Đại tướng hứa sẽ trao đổi vấn đề này với Thủ tướng Võ Văn Kiệt.
Từ gợi ý đó, lãnh đạo địa phương, cụ thể là đồng chí Vũ Thắng, Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Phạm Bá Diễn, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh đã cho mời Phân viện Vật lý Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh đến khảo sát.
Ngày 24/3/1996, Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt cùng với các bộ, ngành liên quan về Chân Mây kiểm tra thực địa và sau đó Thủ tướng giao các bộ, ngành liên quan cùng Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xây dựng quy hoạch khu vực Chân Mây.
Sau khi tỉnh xây dựng bến cảng số I, trong một lần về thăm quê, chúng tôi mời Đại tướng về Chân Mây. Dù chưa như mong muốn, nhưng từ gợi ý của Đại tướng, cảng Chân Mây được xây dựng đã thành hiện thực, nên Đại tướng rất đỗi vui mừng.

Đầu những năm 2000, trên cương vị Bí thư Tỉnh ủy, mỗi dịp ra Hà Nội công tác, được gặp, Đại tướng Lê Đức Anh tâm sự, quê mình còn nghèo nên muốn phát triển phải có hạ tầng.
Tôi thưa với Đại tướng là Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế đang tập trung xin Chính phủ đầu tư xây dựng cầu Trường Hà, đập Thảo Long và hồ chứa nước Tả Trạch. Nếu được triển khai, cầu Trường Hà sẽ giảm bớt sự chia cắt cho vùng bên kia đầm Cầu Hai, mang nhiều lợi ích cho kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng.
Việc cần thiết phải xây đập Thảo Long để ngăn mặn là do cứ đến đầu hè nước sông Hương đã lờ lợ. Còn xây hồ chứa Tả Trạch là khát vọng từ lâu của tỉnh nhà nhằm giảm lũ về mùa mưa và bổ sung nước cho sông Hương về mùa hè.
Nghe đến Trừng Hà (xã Vinh Phú, huyện Phú Vang), Đại tướng Lê Đức Anh kể cho tôi nghe, thời trai trẻ Đại tướng sinh ra, lớn lên và trưởng thành ở đây. Thời ấy, đó là vùng quê nghèo, ruộng ít, cát nhiều; thủy lợi không có nên mất mùa liên miên, cuộc sống của bà con rất cơ cực.
Chính ở chợ Trường Hà, Đại tướng (khi đó mới 10 tuổi) đã cùng ông Viết (Hoàng Văn Viễn), treo cờ Đảng lên ngọn cây dương liễu (năm 1930).
Đại tướng Lê Đức Anh rất vui khi biết ở Phú Lộc đã xây dựng hồ Truồi, nay tỉnh nhà quyết tâm làm cầu băng đầm, vượt phá nên đã động viên chúng tôi cố gắng xúc tiến. Đồng thời, không quên nhắc nhở chúng tôi trong quá trình thực hiện phải sắp xếp lại, nhất là tìm mọi cách đưa cho được bà con các vạn chài lên bờ định cư vì đa số họ mù chữ nên rất thiệt thòi.
Về xây dựng Đảng, Đại tướng Lê Đức Anh nhắc nhở chúng tôi không được xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ. Liên Xô – Đông Âu tan rã là vì xa rời nguyên tắc cốt lõi đó. Đất nước đổi mới và hội nhập cần chú ý đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ, có lý tưởng và trí tuệ mới đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Với quê hương Thừa Thiên Huế, trước hết Ban Thường vụ Tỉnh ủy phải đoàn kết, bài học nhãn tiền là nếu chia rẽ thì không thể phát triển được.
Riêng về việc xây dựng Nhà lưu niệm Đại tướng tại xã Lộc An (Phú Lộc), trước khi triển khai, tôi đã gặp và xin ý kiến Đại tướng nhiều lần, xuất phát từ gợi ý của Đại tướng Phạm Văn Trà.
Tướng Phạm Văn Trà cho biết, Đại tướng Lê Đức Anh có khá nhiều hình ảnh, tài liệu về cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, nhưng do ở nhà công vụ nên không có nơi trưng bày và gợi ý chúng tôi nên làm nhà lưu niệm để có nơi trưng bày tư liệu của nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh.
Tôi đưa vấn đề ra bàn bạc trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy và nhận được sự đồng thuận.
Tôi ra Hà Nội gặp và xin ý kiến, nhưng cả ba lần Đại tướng Lê Đức Anh đều từ chối việc xây dựng nhà lưu niệm vì cho rằng, quê mình còn nghèo nên chưa cần thiết và khuyên chúng tôi dùng số tiền đó để xây dựng nhà trẻ. Lần cuối cùng, sau khi tìm được nguồn tài trợ, chúng tôi gặp Đại tướng, đó là năm 2010. Tôi nói liều: “Đại tướng không đồng ý, chúng cháu cũng đã khởi công!”
Những trăn trở và gợi ý của Đại tướng Lê Đức Anh đối với quê nhà, mấy chục năm qua, Đảng bộ và Nhân dân Thừa Thiên Huế đã từng bước thực hiện.
Nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy, nguyên Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế Nguyễn Xuân Lý cho rằng Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh luôn hướng về quê hương.
Từ năm 2004 đến năm 2007, ở cương vị Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, tôi có dịp được gặp gỡ, trao đổi với Đại tướng và các bộ, ngành Trung ương liên quan đến sự phát triển của tỉnh. Mỗi lần gặp, trong câu chuyện, Đại tướng luôn đau đáu là làm sao để tỉnh ngày một phát triển hơn.
Thời kỳ 2004 – 2007, toàn tỉnh đặc biệt quan tâm đến 3 đề án lớn chưa triển khai thực hiện được. Đó là đề án công trình thủy lợi hồ Tả Trạch, đề án xin nâng cấp thành phố Huế từ đô thị loại 2 lên đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh và đề án nâng cấp sân bay Phú Bài.
Công trình thủy lợi hồ Tả Trạch được đầu tư nhằm chống lũ tiểu mãn, lũ sớm, giảm lũ chính vụ cho hệ thống sông Hương; tạo nguồn nước tưới ổn định cho 34.782 ha đất canh tác, bổ sung nguồn nước ngọt cho hạ lưu sông Hương để đẩy mặn, cải thiện môi trường đầm phá Tam Giang – Cầu Hai; phục vụ nuôi trồng thủy sản, cấp nước sinh hoạt và công nghiệp, phát điện khi cần thiết. Đề án xin đưa thành phố Huế từ đô thị loại 2 lên đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh cũng đóng vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển của tỉnh. Đây là vấn đề mới, đầu tiên của cả nước mà từ trước đến nay chưa địa phương nào thực hiện. Một điều trăn trở lớn nữa của tỉnh là nâng cấp sân bay Phú Bài để phát triển kinh tế, nhất là du lịch.

Tháng 11/2004, tôi mạnh dạn xin ý kiến Đại tướng Lê Đức Anh về 3 nội dung quan trọng trên. Sau khi nghe xong, Đại tướng đồng ý và hoàn toàn ủng hộ dự án hồ Tả Trạch – vấn đề mà lâu nay, cá nhân Đại tướng cũng như Chính phủ rất quan tâm để sớm xúc tiến. Nội dung xin đưa Huế lên thành phố loại 1 trực thuộc tỉnh là vấn đề mới, nhưng Đại tướng cũng đồng tình và khẳng định rất xứng tầm. Dự án nâng cấp sân bay Phú Bài cũng được Đại tướng đồng ý về chủ trương, nhưng phải có lộ trình thực hiện.
Với trách nhiệm, lòng hướng về quê hương, Đại tướng Lê Đức Anh đã viết thư gửi Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải:
“Tôi thấy công trình thủy lợi hồ Tả Trạch là đề án cần thiết và khả thi. Vì nó có tác dụng vừa chế ngự được thiên tai, vừa mang lại lợi ích thiết thực cho nông nghiệp và môi trường sinh thái. Việc nâng cấp đô thị Huế lên đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh là hợp lý. Đối chiếu với tiêu chuẩn quy định hiện nay thì, Huế đủ các yếu tố. Đề án nâng cấp sân bay Phú Bài là sân bay du lịch quốc tế cũng là nguyện vọng chính đáng và khả thi. Tôi đề nghị trước mắt có thể cho xây dựng kéo dài đường băng hiện có để máy bay chở nhiều người có thể hạ cánh được, đặng đáp ứng nhu cầu về kinh doanh du lịch của tỉnh và của cả nước. Tiếp sau, nếu có điều kiện thì xây dựng đường băng thứ hai cho sân bay”.
Sau khi nhận được ý kiến của Đại tướng, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã cùng với các bộ, ngành Trung ương xem xét và ra quyết định phê chuẩn để thực hiện. Trong năm 2004, tất cả các vấn đề liên quan đến công trình thủy lợi hồ Tả Trạch và nâng cấp đô thị Huế lên đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh đều được tiến hành thuận lợi. Riêng sân bay có chậm hơn, đến tháng 6/2005 mới được triển khai xây dựng. Tuy nhiên, tên gọi sân bay cũng có
sự thay đổi, là sân bay quốc tế Phú Bài chứ không phải là sân bay du lịch quốc tế như ý định ban đầu của tỉnh.
Đến nay, các công trình mang tính bước ngoặt lớn của tỉnh có công lớn của Đại tướng Lê Đức Anh đã và đang phát huy hiệu quả. Tôi luôn nghĩ, một con người như Đại tướng bận trăm công nghìn việc như thế mà vẫn luôn dành tình cảm, luôn nghĩ về quê hương thì thật đáng quý, đáng trân trọng. Những việc làm, lời căn dặn của Đại tướng Lê Đức Anh với quê hương, đất nước, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân tỉnh nhà không bao giờ quên và nó sẽ mãi theo tôi suốt cả cuộc đời.
Với ông Võ Nguyên Quảng, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy, nguyên Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thừa Thiên Huế khóa IX (1992-1997), mỗi lần nhắc đến nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh, bao kỷ niệm lại chợt dâng trào…
Nhiều kỷ niệm với Đại tướng
Tôi may mắn được gặp gỡ, làm việc với Đại tướng Lê Đức Anh khi anh là một trong những đại biểu của Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thừa Thiên Huế với biết bao kỷ niệm. Tôi cũng như Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân trong tỉnh không bao giờ quên sự quan tâm to lớn của Đại tướng Lê Đức Anh dành cho quê hương.
Mỗi lần tôi và hai đại biểu Quốc hội của tỉnh là anh Nguyễn Đình Ngộ và chị Nguyễn Khoa Kim Bội ra họp ở Thủ đô Hà Nội thì đều đến thăm ông. Đại tướng Lê Đức Anh là người tình cảm, giản dị và gần gũi.
Một kỷ niệm không bao giờ tôi quên là lúc Quốc hội bầu Đại tướng Lê Đức Anh vào cương vị Chủ tịch nước. Khi có kết quả, Đại tướng vẫn ngồi ở dưới hội trường. Lúc đó, Tổng Bí thư Đỗ Mười đến, vỗ vào vai Đại tướng rồi nói: “Sao đồng chí không lên trên kia ngồi mà ngồi dưới thế này?”. Đại tướng Lê Đức Anh đứng dậy, nói đùa một câu mà tôi nhớ mãi: “Đi lên trên đó ngồi phải xin ý kiến ông Võ Nguyên Quảng, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thừa Thiên Huế đã chứ”. Tuy chỉ là một lời nói đùa, nhưng đã làm tôi rất cảm động.

Những lần vào tiếp xúc cử tri ở Thừa Thiên Huế, gặp ai, Đại tướng Lê Đức Anh cũng bắt tay chào hỏi thân tình, không có khoảng cách cấp trên cấp dưới. Một lần, Đại tướng vào Huế, cũng là để tiếp xúc cử tri. Lúc đó, nhà khách số 5 Lê Lợi của Tỉnh ủy và Ủy ban Nhân dân tỉnh là nơi sang nhất để tiếp đón các đại biểu của Trung ương và các tỉnh. Lúc này, cũng có một hội nghị cựu chiến binh toàn quốc đang tổ chức tại đây, có rất nhiều tướng lĩnh của cả nước tham dự. Chúng tôi nghĩ, Đại tướng làm việc đã căng thẳng, lại ở đó khách khứa nhiều, nên bàn tính đưa Đại tướng xuống khách sạn Hương Giang để ở cho tiện. Khi tới đây, những phòng sang trọng thì có khách Tây ở, đến trưa họ mới giao phòng, nên tôi và anh Phạm Bá Diễn, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh đành phải bố trí Đại tướng vào ở trong một căn phòng chưa được ưng ý lắm. Chúng tôi nghĩ, cứ bố trí thế để Đại tướng ở tạm rồi tính tiếp.
Lúc cùng Đại tướng chuẩn bị đi Phú Lộc, anh Phạm Bá Diễn nói: “Quảng ở nhà chuẩn bị phòng, rồi chiều mời Đại tướng lên ở phòng khác đẹp hơn, rộng hơn”. Mới ăn sáng xong, nghe chúng tôi trao đổi như vậy, Đại tướng Lê Đức Anh mới hỏi: “Có chuyện chi rứa?”. Tôi báo cáo với Đại tướng: “Chừ Đại tướng đi Phú Lộc với anh Diễn, chiều lên xin phép Đại tướng cho chúng em chuyển Đại tướng lên ở phòng khác”. Nghe vậy, Đại tướng nói một câu mà tôi nhớ cả đời: “Hồi tham gia kháng chiến, mình mắc võng ở trên núi mà ngủ ngon, chừ phòng như ri mà nói hẹp nữa? Không đi mô hết, ở đây thôi”.
Một kỷ niệm nữa khó quên là khi vào tiếp xúc cử tri, theo kế hoạch, Đại tướng sẽ thăm một số cơ sở ở thành phố Huế. Khi đi sẽ có xe công an đi trước và sau để bảo vệ, dẫn đường, nhưng Đại tướng không muốn như vậy. Đại tướng nói riêng với tôi: “Quảng ăn sáng xong rồi lên xe mình qua thăm bà con tiểu thương chợ Đông Ba, nhưng đừng cho ông Bàng biết (Đại tá Nguyễn Hồng Bàng lúc đó là Giám đốc Công an tỉnh)”. Rồi Đại tướng nói: “Dân mình nghèo khổ, nhưng tốt, họ không làm chi mô, đừng để công an đi bảo vệ nữa”. Nghe Đại tướng nói thế, tôi chấp hành.
Hôm sau, chúng tôi đưa Đại tướng Lê Đức Anh ra Phong Điền, lên vùng giáp ranh xã Phong Xuân để tiếp xúc cử tri và thăm hồ thủy lợi ở trên đó. Sáng ấy, Đại tướng Lê Đức Anh và đoàn công tác của tỉnh ra Phong Điền từ rất sớm, thế nhưng ở Ban Thường vụ Huyện ủy Phong Điền thì chưa có ai. Đến ngã ba An Lỗ, trong lúc chờ đợi Ban Thường vụ Huyện ủy Phong Điền, Đại tướng đã xuống xe vào từng hộ gia đình để hỏi thăm sức khỏe, nói chuyện liên quan đến cuộc sống của người dân.
Đại tướng luôn quan tâm đến sự phát triển của quê hương
Những năm tháng về với quê hương Thừa Thiên Huế, Đại tướng Lê Đức Anh đều quan tâm, tham gia ý kiến đối với sự phát triển của tỉnh.
Đại tướng luôn căn dặn, tỉnh mình nghèo, hai cuộc chiến tranh tàn phá nặng nề, dân còn khổ, nên lãnh đạo tỉnh phải luôn quan tâm, chăm lo đời sống cho Nhân dân. Trong nông nghiệp phải lo làm sao giải quyết được vấn đề thủy lợi, để tạo điều kiện thuận lợi cho dân canh tác hết diện tích lúa, đưa năng suất, chất lượng cây lúa lên cao. Muốn vậy, phải hướng dẫn cho người dân biết vận dụng các kiến thức về khoa học kỹ thuật mới trong sản xuất. Đại tướng cũng gợi mở cho tỉnh phải quan tâm, đề ra các giải pháp để đẩy mạnh ngành du lịch của tỉnh thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Chúng tôi cũng không thể quên được công lao của Đại tướng Lê Đức Anh khi nêu quan điểm để xây dựng công trình thủy lợi hồ Truồi.
Trước đó, qua làm việc với các bộ, ban, ngành và cơ quan Trung ương, nhiều đại biểu không đồng tình về chủ trương này. Tuy nhiên, với quyết tâm và trên cơ sở phân tích của Đại tướng Lê Đức Anh, cuối cùng, công trình thủy lợi hồ Truồi cũng được xây dựng. Công trình đã giải quyết được vấn đề thủy lợi cho người nông dân trồng lúa tại các huyện: Phú Vang, Phú Lộc, thị xã Hương Thủy và một phần của thành phố Huế.
Mấy ngày nay, nghe tin Đại tướng Lê Đức Anh qua đời, tôi rất xúc động. Cá nhân tôi và Đảng bộ, chính quyền, quân và dân trong tỉnh luôn tự hào về một vị tướng tài ba, một lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, của Quân đội, của quê hương Thừa Thiên Huế – nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh.
Trong suốt chặng đường hoạt động cách mạng, Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh luôn là một vị tướng, một nhà lãnh đạo tài năng.
Trong cuộc sống đời thường, ông là người sống giản dị, gần gũi, chân tình nhưng rất sâu sắc và luôn nặng tình với quê hương. Rời quê hương Thừa Thiên Huế tham gia hoạt động cách mạng từ thời niên thiếu, nhưng tình yêu với nơi chôn nhau cắt rốn vẫn đau đáu trong trái tim của ông.

Dấu ấn tuổi thơ
Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh sinh ngày 01/12/1920 ở làng Trừng Hà, huyện Phú Vang; quê gốc ở xứ Truồi, làng Bàn Môn, xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông nội của ông là một sỹ phu từng tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp.
Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh là con thứ 7 trong gia đình có 9 người con. Tuổi thơ của ông gắn bó với xứ Truồi, nơi có ngọn núi Truồi hùng vĩ, sông Truồi xanh trong.
Sông Truồi bắt nguồn từ vùng rừng núi phía Tây của huyện Phú Lộc đổ ra phá Tam Giang. Con sông Truồi hiền hòa đã nuôi sống bao thế hệ người dân nơi đây, tắm mát những cánh đồng quê và tắm mát cả tâm hồn, tuổi thơ ông cùng bạn bè nô đùa, câu cá trong những ngày hè oi bức.
Ông là người sáng dạ nên được gia đình cho đi học từ nhỏ. Ký ức tuổi thơ của ông cũng là những ngày ăn sắn, ăn khoai qua ngày, nhưng ấm áp tình cảm gia đình; là sự hy sinh của cha, là sự tần tảo của mẹ, để anh chị em ông được cắp sách đến trường.
Trong cuốn Hồi ký Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng ra mắt cuối năm 2015, Đại tướng Lê Đức Anh viết: “Trường xa nhà, nên buổi sáng đi học tôi thường nhịn đói. Ngày ấy, những đứa học trò nhà quê như chúng tôi không có giày dép, đi đâu cũng chân trần. Trên chặng đường tới trường ở Dưỡng Mong phải qua một trảng cát, những ngày trời nắng, cát bỏng như rang, chúng tôi phải lấy những bẹ nang của cây tre, rồi dùng dây bẹ chuối cột dưới bàn chân để đi qua trảng cát cho đỡ bỏng chân.”
Cũng chính bởi những gian khó ấy đã rèn luyện và hình thành trong ông đức tính kiên nhẫn, chịu thương chịu khó, sẵn sàng đối mặt với mọi khó khăn.
Ký ức tuổi thơ của ông còn in đậm những hình ảnh đói nghèo, bệnh tật của người dân lương thiện chốn làng quê, hình ảnh lam lũ của những phu xe kéo tay, của người nông dân; nạn sưu cao thuế nặng đẩy người dân đến bước khốn cùng.
Chứng kiến cảnh áp bức, bóc lột của chế độ thực dân, phong kiến đã khiến ông khao khát làm một điều gì đó cùng với người dân lam lũ để thay đổi cuộc sống lầm than, cơ cực. Và cơ duyên khiến ông sớm được tiếp xúc với những người yêu nước cách mạng, được tiếp cận với báo chí tiến bộ và tìm hiểu về chủ nghĩa Cộng sản, về Nguyễn Ái Quốc và phong trào đấu tranh đòi độc lập cho đất nước, tự do cho dân tộc…
Rồi người thiếu niên Lê Đức Anh được giác ngộ và chính thức tham gia hoạt động cách mạng ở địa phương từ năm 17 tuổi, rồi quyết tâm gắn cuộc đời mình với sự nghiệp cách mạng, đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Ông tham gia hoạt động cách mạng trong Mặt trận Dân chủ huyện Phú Vang và Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 1937-1944.
Xứ Truồi, xã Lộc An, huyện Phú Lộc, không chỉ là nơi gắn bó tuổi thơ mà còn là nơi hun đúc tinh thần yêu nước, đấu tranh cách mạng của chàng thiếu niên Lê Đức Anh. Những kỷ niệm ấy vẫn luôn in đậm trong trái tim, trí nhớ và cùng ông bước qua những chặng đường gian nan trong suốt cuộc đời cách mạng của mình.
Ông Nguyễn Chương, 70 tuổi, người cháu gọi Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh là bác họ, chia sẻ: “Nhiều lần về quê, nhưng lần nào bác cũng bảo tôi dẫn bác ra sông Truồi, đoạn Bến Bãi có cái bến ngày xưa bác hay ra chơi. Rồi bác kể cho tôi nghe những câu chuyện thời bé, những buổi trưa đi câu cá, đọc sách, cùng bạn bè đùa nghịch bên dòng sông này; về cuộc sống cơ cực nhưng ấm áp tình cảm gia đình và bà con quê tôi; rồi những ngày bác tham gia cách mạng, đi theo Đảng… Bác thường dặn chúng tôi phải coi trọng sự học, chăm lo cho con cháu học hành đến nơi đến chốn để sau này sống có ích cho xã hội; sống chan hòa, gắn bó với bà con xóm giềng, giúp đỡ những người gặp khó khăn.”
Vị tướng giản dị, gần gũi
Là một vị tướng tài ba, trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đại tướng Lê Đức Anh có mặt ở những điểm nóng nhất và trở về trong chiến thắng. Nhưng với những người dân ở xứ Truồi thì Đại tướng không chỉ là người con kiệt xuất của quê hương, mà còn là một người giản dị, gần gũi.
Theo lời kể của người dân xã Lộc An, khi còn khỏe, ông rất nhiều lần về thăm quê. Mỗi lần về quê, ông thường đi thăm bà con quanh xóm, ân cần hỏi thăm tình hình cuộc sống, lao động sản xuất của bà con; nhắc nhở bà con họ hàng, con cháu ở làng Bàn Môn, xã Lộc An, phải luôn chấp hành tốt chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, phát huy tinh thần thi đua yêu nước, tích cực lao động sản xuất để phát triển quê hương ngày càng giàu đẹp.
Ông thích ăn những món ăn dân dã, đậm chất quê hương và uống nước chè xanh; thích nghe những câu hò của xứ Huế. Ông thường bảo: “Không về xứ Truồi thì thôi, chứ về thì phải uống nước chè Truồi.”
Cụ Trần Đình Hàng, 85 tuổi, trú tại thôn Nam, làng Bàn Môn, xã Lộc An, huyện Phú Lộc, chia sẻ Đại tướng là người sống rất giản dị, luôn gần gũi, quan tâm đến cuộc sống của bà con.
Một lần về thăm quê, nhìn thấy con đường xuống bến sông Truồi bị xuống cấp, Đại tướng đã bỏ kinh phí để bê tông hóa con đường giúp bà con đi lại được thuận tiện hơn. Rồi khi có kế hoạch xây dựng Nhà văn hóa – Thư viện mang tên Đại tướng, ban đầu ông không đồng ý vì sợ ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân, sau nhiều lần thuyết phục ông mới đồng ý.
Tuy nhiên, ông nhắc nhở không nên xây lớn, ảnh hưởng đến ruộng đất, nhà cửa và cuộc sống của bà con trong làng. Hiện nay, Nhà văn hóa – Thư viện Lê Đức Anh là nơi trưng bày hàng trăm hiện vật, hình ảnh, đầu sách có nội dung về cuộc đời, thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh – con người suốt đời phấn đấu, cống hiến không mệt mỏi cho dân tộc.
Cụ Hàng nói thêm bà con trong thôn rất kính trọng Đại tướng và xem ông là tấm gương sáng để noi theo. Không ai bảo ai, nhưng mọi người cùng chung tay gìn giữ tài sản, vệ sinh nhà văn hóa cũng như môi trường trong thôn xóm. Khu nhà trở thành địa chỉ văn hóa đón học sinh, người dân và du khách tham quan, đọc sách, tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh.
Trong cuốn sổ vàng lưu niệm tại Nhà văn hóa – Thư viện Lê Đức Anh, nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu viết: “Đại tướng Lê Đức Anh, một cán bộ quân sự – chính trị và giàu nét văn hóa dân tộc đã có nhiều cống hiến xuất sắc cho cách mạng, cho dân tộc. Công lao to lớn của đồng chí, Quân đội, Nhân dân và Đảng ta mãi mãi trân trọng và học tập, phát huy.”
Nặng tình với quê hương
Mặc dù sống xa quê, bận rộn với công tác, nhưng tình yêu dành cho nơi chôn nhau cắt rốn, nơi đất mẹ thiêng liêng, chưa bao giờ vơi trong trái tim của Đại tướng Lê Đức Anh. Tình yêu quê hương ấy cũng chính là động lực, là sức mạnh để ông hăng hái tham gia cách mạng, cùng đồng bào cả nước đứng lên chống lại áp bức, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc.
Ngày hòa bình lập lại, Đại tướng có nhiều trăn trở và gợi mở giúp quê hương khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế – xã hội.
Quê hương của Đại tướng hôm nay có nhiều khởi sắc, cuộc sống của bà con cũng từng bước được cải thiện. Ông Nguyễn Bùi, Bí thư Đảng ủy xã Lộc An, huyện Phú Lộc, cho biết Đại tướng là người nặng tình với quê hương. Mỗi lần về quê, ông luôn dành thời gian để trò chuyện, chia sẻ với cán bộ, chính quyền tại địa phương.
Còn nhớ, trong chuyến về thăm quê năm 2014, Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh đã ghé vào Ủy ban Nhân dân xã Lộc An để thăm các cán bộ đang làm việc. Tại đây, ông nhắn nhủ:
“Quê hương Lộc An còn nghèo, Nhân dân còn khó khăn. Cán bộ chính quyền phải quan tâm đến đời sống của Nhân dân, biết yêu thương dân, phải biết gần dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của dân; biết khơi dậy sức mạnh của sự đoàn kết để chung tay, góp sức thay đổi bộ mặt quê nhà, nâng cao đời sống Nhân dân.”
Ghi nhớ lời dặn ấy, nhiều năm qua, Đảng bộ và Nhân dân xã Lộc An đã xác định nhiệm vụ cốt lõi là phải xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tăng cường sự lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, nâng cao chất lượng, trách nhiệm và đạo đức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức vì Nhân dân phục vụ; không ngừng nỗ lực thi đua lao động sản xuất, phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương để phát triển kinh tế, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị luôn được quan tâm và triển khai thực hiện tốt, nhiều năm liền Đảng bộ đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh. Tháng 9/2018, Lộc An đã được Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế công nhận là xã đạt chuẩn nông thôn mới khi hoàn thành 19/19 tiêu chí.
Trên địa bàn xã hiện có 3.078 hộ với hơn 14.000 dân. Thu nhập bình quân đầu người đạt trên 45 triệu đồng/năm; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 4,7%; tỷ lệ hộ khá và giàu đạt hơn 70% dân số; tỷ lệ dân sử dụng nước sạch đạt hơn 98%. Bên cạnh đó, cơ cấu kinh tế của xã đã chuyển dịch đúng hướng, các hình thức tổ chức sản xuất được thành lập và phát triển phù hợp với trình độ lao động của địa phương. Xã chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, tạo động lực phát triển kinh tế; đẩy mạnh công tác đền ơn đáp nghĩa, an sinh xã hội; đảm bảo tình hình an ninh trật tự trên địa bàn.
Quy mô giáo dục của địa phương có bước phát triển mới, chất lượng dạy và học ngày càng nâng cao; 100% thôn đạt chuẩn văn hóa…
Mỗi người dân nơi đây, luôn tự hào và khắc ghi công lao to lớn của Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh cho sự nghiệp vẻ vang của Đảng, của dân tộc. Tấm gương sáng về tinh thần và nghị lực cách mạng, phẩm chất cao đẹp của người chiến sỹ cộng sản, cũng như những tình cảm thiêng liêng mà Chủ tịch nước – Đại tướng đã dành cho quê hương là động lực để mỗi người dân xã Lộc An, huyện Phú Lộc nói riêng và Thừa Thiên Huế nói chung vượt qua khó khăn, cùng nhau giữ gìn truyền thống tốt đẹp, xây dựng quê hương ngày càng lớn mạnh, giàu đẹp.
Nguyễn Văn Bòn (1)
Những năm về hưu, khi nào ra Hà Nội tôi cũng đến thăm Đại tướng, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Lần thăm sau cùng là ngày 14/11/2018 tại Viện Quân y 108.
Vào cuối năm 1992, trên cương vị Chủ tịch nước, trong dịp vào Thừa Thiên Huế, Đại tướng ghé về thăm và làm việc với Huyện ủy Phú Lộc. Lúc này, do tình hình nội bộ Huyện ủy có vấn đề nên nhiệm kỳ đại hội 1991 – 1995 bị kéo dài. Sau khi nghe đồng chí phụ trách Bí thư Huyện ủy phát biểu về tình hình kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng, xây dựng Đảng, Đại tướng gợi ý: “Tôi muốn nghe thêm các đồng chí trong Ban Thường vụ Huyện ủy phát biểu về cách khắc phục tồn tại, khuyết điểm để đưa huyện nhà đi lên”.
Nghe Đại tướng gợi ý, không khí cuộc họp trở nên gần gũi, thân tình. Từng đồng chí trong Ban Thường vụ phát biểu, nêu trách nhiệm của mình để bổ sung vào báo cáo của đồng chí phụ trách Bí thư Huyện ủy. Nghe xong, Đại tướng nói: “Các ý kiến nêu ra của các đồng chí trong Ban Thường vụ, tôi thấy nếu quyết tâm thực hiện thì huyện nhà sẽ có nhiều điều kiện để phát triển.
Tôi cũng có nghe đồng chí Vũ Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy có báo cáo cho tôi về tình hình của huyện. Tôi buồn lắm! Phú Lộc là vùng đất giàu truyền thống văn hóa và cách mạng, Nhân dân cần cù và anh dũng trong lao động, chiến đấu. Các đồng chí trong Ban Thường vụ hiểu lịch sử của Đảng bộ huyện. Chi bộ Đảng đầu tiên của 2 huyện Phú Vang và Phú Lộc được thành lập năm 1930 tại Đình làng Bàn Môn, xã Lộc An với 3 đồng chí… Tự hào lắm chứ!
Trải qua những năm tháng oanh liệt, Đảng bộ huyện đã lớn mạnh và trưởng thành. Việc nội bộ Huyện ủy có vấn đề về đoàn kết nội bộ là điều không vui đối với mỗi chúng ta, nhưng tôi nghĩ, kế hoạch chung của Ban Thường vụ và của từng đồng chí vừa nêu ra, tôi tin tưởng cán bộ và Nhân dân huyện nhà sẽ vượt qua được khó khăn trước mắt, đưa Phú Lộc đi lên xứng đáng với cái tên Phú Lộc mà ông cha xưa đã chọn.
Ở đây, tôi xin nêu thêm một vài ý kiến để các đồng chí bổ sung vào chương trình công tác sắp tới của huyện.
Trước hết, các đảng viên trong Đảng bộ huyện phải biết tập trung lo cho dân. Đây là mục tiêu chung, ai cũng lo cho dân, không lo cho cái tôi của mình thì không có gì để xảy ra mất đoàn kết cả.
Trong Ban Thường vụ Huyện ủy, mỗi đồng chí mỗi hoàn cảnh, mỗi khả năng, khi nhìn nhận một sự vật, hiện tượng, khi nghiên cứu học tập nghị quyết của Đảng, chưa thể có sự đồng nhất được mà cần phải có thời gian để cùng suy nghĩ, cùng thống nhất, cùng hành động…
Các đồng chí phải biết thương yêu lẫn nhau. Trong Ban Thường vụ hiện nay phần lớn là các đồng chí kinh qua hai cuộc kháng chiến, thấu hiểu được tình thương của Nhân dân đã bao che, đùm bọc, nuôi dưỡng cách mạng trong những năm tháng cam go, ác liệt của chiến trường. Tình thương của dân là vậy, huống gì chúng ta là những người đảng viên với nhau, chiến đấu bên nhau, cùng vào sinh ra tử. Vì vậy, trong Ban Thường vụ Huyện ủy phải lấy tình thương yêu, lấy tinh thần tự phê bình và phê bình làm căn bản để làm tốt công tác xây dựng Đảng. Về thăm quê hương lần sau, tôi tin rằng Huyện ủy sẽ có nhiều điểm sáng hơn trong báo cáo”.

(từ trái sang: đồng chí Nguyễn Ngọc Thiện, UVTW Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Đại tướng Lê Đức Anh, đồng chí Nguyễn Văn Bòn)
Nghe Đại tướng nói xong, mọi người cùng vỗ tay, nét mặt ai cũng hân hoan, phấn khởi, tin tưởng vào việc khắc phục mất đoàn kết, quyết tâm xây dựng huyện nhà phát triển trong giai đoạn mới.
Cuối năm 1996, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ký Quyết định số 966/TTg ngày 27/12/1996 về việc phê duyệt định hướng quy hoạch đô thị mới Chân Mây, đặt nền móng cho sự phát triển của vùng Chân Mây – Lăng Cô hiện nay với cảng biển nước sâu Chân Mây; khu nghỉ dưỡng quốc tế Laguna 5 sao nổi tiếng.
Dịp gặp Đại tướng lần thứ 2 là vào mùa hè năm 1997, lúc này tôi làm Bí thư Huyện ủy Phú Lộc. Lần này, Đại tướng dành thời gian đi thăm Bạch Mã.
Bạch Mã là ngọn núi cao nhất ở Thừa Thiên Huế. Đường đi có nhiều đoạn phải đi bộ với độ dốc rất lớn, nhất là đường lên Hải Vọng Đài.
Hải Vọng Đài là một trong những ngọn đồi cao của núi Bạch Mã. Năm 1972, Mỹ, ngụy đã biến nơi đây thành sân bay dã chiến -sân bay trực thăng cùng với một căn cứ quân sự khá mạnh để chiếm ưu thế trong phòng ngự của chúng ở Thừa Thiên Huế và cho cả Đà Nẵng. Khi đi ngang qua địa đạo của Quân Giải phóng đào để tấn công địch sau Hiệp định Paris 1973, Đại tướng Lê Đức Anh chú ý quan sát và chăm chú lắng nghe cán bộ thuyết minh
giới thiệu. Thấy địa đạo bị xuống cấp, không được tu sửa, Đại tướng nói: “Bạch Mã là Đà Lạt của miền Trung. Địa danh này nổi tiếng có từ thời Pháp thuộc, càng nổi tiếng khi Mỹ, ngụy phải đưa nội dung đề nghị ra hội nghị quân sự bốn bên ở miền Nam trong thực hiện Hiệp định Paris, xin ngưng chiến để cho máy bay Mỹ chuyển quân ngụy bị thương và binh lính rút khỏi Bạch Mã để khỏi bị ta tiêu diệt. Vì vậy, các đồng chí phải báo cáo với cấp trên, với Trung ương để có phương án phục dựng lại địa đạo, coi đây là một di tích lịch sử cách mạng để sau này khi Bạch Mã trở thành địa chỉ du lịch, nghiên cứu khoa học về hệ sinh thái rừng thì Bạch Mã càng thêm phong phú và đa dạng”…
Những năm sau này khi về hưu, mỗi lần ra Hà Nội là tôi đều ghé thăm Đại tướng. Đại tướng hỏi về sức khỏe của tôi, hỏi về tình hình bà con quê hương. Nghe tôi báo cáo về sự phát triển của huyện nhà, nhất là sông Truồi đã được tỉnh đầu tư xây dựng hồ thủy lợi với dung tích 50 triệu m3 nước, Đại tướng cười, đọc lại câu thơ có từ xa xưa:
Xứ Truồi ngọt mít thơm dâu
Anh đi làm rể ở lâu không về…
Khi nghe báo chí đưa tin nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh từ trần, trong lòng tôi buồn khôn tả, điện thoại cho bạn bè và người thân ai cũng nghẹn ngào xúc động không nói nên lời…

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vô cùng thương tiếc báo tin:
Đồng chí Đại tướng LÊ ĐỨC ANH, sinh ngày 01/12/1920 tại xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế; thường trú tại số nhà 5A Hoàng Diệu, phường Quán Thánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Tham gia hoạt động cách mạng năm 1937; vào Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 5-1938. Nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa IV, V, VI, VII, VIII; Bí thư Trung ương Đảng khóa VII; Ủy viên Bộ Chính trị các khóa V, VI, VII, VIII; Thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII; Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ tháng 9/1992 đến tháng 12/1997); Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (từ năm 1997 đến tháng 04/2001). Đại biểu Quốc hội các khóa VI, VIII, IX.
Sau một thời gian lâm bệnh nặng, mặc dù đã được Đảng, Nhà nước, tập thể các giáo sư, bác sĩ tận tình cứu chữa, gia đình hết lòng chăm sóc, nhưng do tuổi cao, bệnh nặng, đồng chí đã từ trần hồi 20 giờ 10 phút, ngày 22/4/2019 (tức ngày 18 tháng 3 năm Kỷ Hợi), tại số nhà 5A Hoàng Diệu, phường Quán Thánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Hơn 80 năm hoạt động cách mạng, đồng chí đã có nhiều đóng góp to lớn đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc. Đồng chí đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng; Huân chương Quân công hạng nhất; Huân chương Chiến công hạng nhất; Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế.
Đồng chí mất đi là một tổn thất to lớn đối với Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta.
Để tỏ lòng tưởng nhớ đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quyết định tổ chức tang lễ đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh với nghi thức Quốc tang.
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

Đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nguyên Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
- Đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Trưởng ban Lễ tang.
- Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân, Ủy viên Bộ Chính trị,
Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. - Đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường
trực Ban Bí thư. - Đồng chí Tòng Thị Phóng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ
tịch thường trực Quốc hội. - Đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương.
- Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư
Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương. - Đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư
Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương. - Đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Kinh tế Trung ương.
- Đồng chí Trương Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ
tướng thường trực Chính phủ. - Đồng chí Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.
- Đồng chí Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ.
- Đồng chí Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
- Đồng chí Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an.
- Đồng chí Hoàng Trung Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội.
- Đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đồng chí Trần Thanh Mẫn, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Đồng chí Đại tướng Lương Cường, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.
- Đồng chí Nguyễn Văn Nên, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.
- Đồng chí Nguyễn Hòa Bình, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao.
- Đồng chí Phan Đình Trạc, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương.
- Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Bí thư Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương.
- Đồng chí Trần Cẩm Tú, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.
- Đồng chí Đặng Thị Ngọc Thịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Đồng chí Đại tướng Đỗ Bá Tỵ, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội.
- Đồng chí Hoàng Bình Quân, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương.
- Đồng chí Lê Minh Trí, Ủy viên Trung ương Đảng, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao.
- Đồng chí Mai Tiến Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.
- Đồng chí Đào Việt Trung, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước.
- Đồng chí Nguyễn Hạnh Phúc, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội.
- Đồng chí Lê Vĩnh Tân, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
- Đồng chí Bùi Văn Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
- Đồng chí Thào Xuân Sùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam.
- Đồng chí Nguyễn Thị Thu Hà, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
- Đồng chí Lê Trường Lưu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội Đồng Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đồng chí Trung tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 7.
- Đồng chí Thiếu tướng Huỳnh Chiến Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 9.
- Đồng chí Thượng tướng Nguyễn Văn Được, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
- Đồng chí Lê Quốc Phong, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
THÔNG BÁO
LỄ VIẾNG, LỄ TRUY ĐIỆU VÀ LỄ AN TÁNG NGUYÊN CHỦ TỊCH NƯỚC – ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH
Tang lễ đồng chí nguyên Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh tổ chức theo nghi thức Quốc tang.
Linh cữu đồng chí Lê Đức Anh quàn tại Nhà Tang lễ Quốc gia số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội.
Lễ viếng đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh bắt đầu từ 7 giờ đến 11 giờ, ngày 03/5/2019, tại Nhà Tang lễ Quốc gia số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội.
Lễ truy điệu Đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh từ 11 giờ cùng ngày 03/5/2019, tại Nhà Tang lễ Quốc gia số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội.
Lễ an táng từ 17 giờ cùng ngày 03/5/2019 tại Nghĩa trang TP. Hồ Chí Minh.
Cùng thời gian này, tại Hội trường Thống nhất TP. Hồ Chí Minh, tại Hội trường Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế cũng tổ chức Lễ viếng, Lễ truy điệu đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh.
Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam sẽ tường thuật trực tiếp Lễ viếng, Lễ truy điệu và Lễ an táng đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh.
Trong hai ngày Quốc tang (ngày 03-5 và ngày 04/5/2019), các công sở, các nơi công cộng treo cờ rủ và ngừng các hoạt động vui chơi giải trí.
Tại Lễ truy điệu Đại tướng Lê Đức Anh,
nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nguyên Cố vấn
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
(Do đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đọc tại Lễ truy điệu ngày 03/5/2019)

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Thưa các vị khách quốc tế,
Thưa gia quyến đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh,
Thưa đồng bào, đồng chí,
Hôm nay, trong niềm xúc động và tiếc thương vô hạn, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng đồng bào, đồng chí và gia đình tổ chức trọng thể Lễ truy điệu và tiễn đưa đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nguyên Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng về nơi an nghỉ cuối cùng.
Đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh là một nhà lãnh đạo xuất sắc, có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân ta; người đảng viên cộng sản kiên trung, suốt đời cống hiến, hy sinh vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Đồng chí mất đi là một tổn thất to lớn đối với Đảng, Nhà nước, Quân đội và Nhân dân ta, đối với gia quyến của Đồng chí, để lại niềm tiếc thương đối với đồng bào, đồng chí, gia đình và bạn bè quốc tế.
Thưa đồng bào, đồng chí,
Đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh (bí danh Nguyễn Phú Hoà; Sáu Nam), sinh ngày 01/12/1920, quê quán tại xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Được thừa hưởng truyền thống yêu nước của quê hương và gia đình, đồng chí đã sớm giác ngộ cách mạng; năm 1937 khi mới 17 tuổi, đồng chí đã tham gia phong trào dân chủ ở Phú Vang, Thừa Thiên Huế. Tháng 5/1938, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Đồng chí luôn bám dân, bám địa bàn, hoạt động và xây dựng phong trào cách mạng ở cơ sở từ tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, đến Lâm Đồng, Bình Dương, Bình Phước.
Tháng 8/1945, đồng chí tham gia Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước và chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc, đồng chí Lê Đức Anh luôn có mặt ở những địa bàn chiến trường trọng yếu, khó khăn, ác liệt. Đồng chí đã kinh qua các chức vụ từ cấp Đại đội, Chi đội, Trung đoàn, Tham mưu trưởng Khu 7, Khu 8, Quân khu Sài Gòn – Chợ Lớn, Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Nam Bộ, Phó Cục trưởng Cục Tác chiến, Cục trưởng Cục Quân lực – Bộ Tổng tham mưu, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong mọi hoàn cảnh, đồng chí luôn vượt qua khó khăn, chỉ đạo tác chiến, xây dựng đoàn kết nội bộ, mở rộng vùng căn cứ, thể hiện phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ, của người chỉ huy, mưu trí, dũng cảm, quyết đoán, quyết thắng.
Trên cương vị là Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh miền Nam, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh miền Nam, Tư lệnh Khu 9, Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân Tây Nam, đồng chí đã trực tiếp tham gia và chỉ huy nhiều chiến dịch lớn, luôn thể hiện bản lĩnh của người chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng, giữ vững thế tiến công, chủ động tấn công, lăn lộn với thực tế chiến trường để tìm ra những cách đánh hiệu quả, giảm hy sinh xương máu của chiến sĩ và đồng bào, góp phần cùng quân và dân ta giành được nhiều thắng lợi có tính chiến lược, như: Đánh bại cuộc hành quân mang tên Gian-xơn Xi-ti của Mỹ tấn công căn cứ của Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền ở Tây Ninh năm 1967, chống địch lấn chiếm, phá hoại Hiệp định Paris năm 1973 trên địa bàn Khu 9, cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng nhiều tỉnh, thành phố có vị trí chiến lược, làm thay đổi cục diện chiến trường, tạo đà góp phần vào thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Đại tướng Lê Đức Anh là một vị tướng trận mạc, một nhà chỉ huy xuất sắc, có tầm nhìn chiến lược, có chiến thuật tài tình và linh hoạt xử lý các tình huống phức tạp. Đồng chí là một trong hai sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam được phong hàm vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng. Cuộc đời binh nghiệp của Đại tướng gắn với nhiều chiến trường vào Nam ra Bắc và thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả.
Trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, đồng chí là một trong những tướng lĩnh trực tiếp chỉ huy chiến trường và giành nhiều thắng lợi quan trọng, bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc và giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng. Đồng chí cũng là người trực tiếp thị sát, chỉ đạo và đóng góp quan trọng trong thực hiện chủ trương xây dựng thế trận phòng thủ vững chắc, quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng
của Tổ quốc.
Sau khi đất nước hòa bình, thống nhất, đồng chí được Đảng, Nhà nước giao nhiều trọng trách, như: Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Cam-pu-chia, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương; là Ủy viên Trung ương Đảng các khóa IV, V, VI, VII, VIII; Bí thư Trung ương Đảng khóa VII; Ủy viên Bộ Chính trị các khóa V, VI, VII, VIII; Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII; Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ tháng 9/1992 đến tháng 12/1997; Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ năm 1997 đến tháng 4/2001; Đại biểu Quốc hội các khóa VI, VIII và IX.
Ở bất kỳ cương vị nào, đồng chí luôn trăn trở, tìm tòi, tâm huyết với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, cùng tập thể lãnh đạo Đảng, Nhà nước có nhiều quyết sách quan trọng để tái thiết đất nước, khởi xướng công cuộc đổi mới, phá thế bao vây cấm vận, mở rộng quan hệ đối ngoại của đất nước; cùng Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng tập trung xây dựng lực lượng vũ trang Nhân dân, xây dựng thế trận “chiến tranh Nhân dân” và nền quốc phòng toàn dân, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.
Khi giữ trọng trách Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với tầm tư duy chiến lược, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, tác phong sâu sát, đồng chí cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước đề ra và chỉ đạo triển khai thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, đưa đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Hơn 80 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh đã có nhiều công lao to lớn và cống hiến xuất sắc đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, dân tộc ta, tuyệt đối trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Là cán bộ lão thành cách mạng, được tôi luyện, vào sinh ra tử, trưởng thành qua các cuộc kháng chiến và trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng chí luôn giữ vững ý chí, phẩm chất của người chiến sĩ cộng sản, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân; không ngừng rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, nâng cao tri thức, sáng tạo, sắc sảo, quyết đoán và hành động quyết liệt trong mọi công việc.
Là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt tiêu biểu của Đảng, dù ở cương vị nào, đồng chí cũng mang hết nhiệt huyết đóng góp nhiều ý kiến quan trọng vào những vấn đề lớn của đất nước. Đồng chí không ngừng phấn đấu, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn thể hiện rõ phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, đặt lợi ích của Đảng, Tổ quốc và Nhân dân lên trên hết. Đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh là một nhà chính trị, nhà quân sự tài năng; một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí là tấm gương sáng để đồng bào, đồng chí, cán bộ, chiến sĩ cả nước yêu quý, kính trọng, học tập và noi theo.
Đối với đồng chí, đồng đội, Đại tướng Lê Đức Anh không phân biệt cấp bậc, chức vụ, sẵn sàng chia ngọt sẻ bùi, luôn quan tâm, chăm lo cho cán bộ, chiến sỹ và thực hiện chế độ, chính sách hậu phương quân đội. Đồng chí luôn gần gũi, chân tình, sâu sắc và nặng tình nghĩa với quê hương. Trong gia đình, đồng chí là người chồng, người cha, người ông, người cụ mẫu mực, đức độ, giàu đức hy sinh và lòng nhân ái.
Với 99 tuổi đời, hơn 80 năm tuổi Đảng, đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh đã trọn đời phấn đấu, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và Nhân dân ta. Đồng chí đã được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Sao vàng, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng và nhiều huân chương, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế.
Kính thưa anh linh đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh,
Hôm nay, chúng tôi có mặt tại đây để bày tỏ lòng tiếc thương và tình cảm sâu sắc tiễn đưa đồng chí về nơi an nghỉ cuối cùng.
Chúng tôi nguyện đoàn kết một lòng, noi gương đồng chí, cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ra sức phấn đấu, tiếp tục đi theo con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và các thế hệ cách mạng đi trước, trong đó có đồng chí đã trọn đời cống hiến; kiên định chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới, vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Chúng tôi mãi mãi nhớ về Đại tướng Lê Đức Anh – anh Sáu Nam kính mến, người đồng chí thân thiết, chí tình, một vị tướng tài ba, một nhà lãnh đạo xuất sắc, một nhân cách đức độ, giản dị, gần gũi.
Trong giờ phút tiếc thương và xúc động này, chúng tôi xin trân trọng gửi đến toàn thể gia quyến đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh lời chia buồn sâu sắc nhất trước nỗi đau thương, mất mát không gì bù đắp được.
Xin kính cẩn nghiêng mình vĩnh biệt đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh – Anh Sáu Nam kính mến của chúng ta!











Ghi trong Sổ tang viếng Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh, nhiều lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các bộ, ngành, địa phương, các tầng lớp Nhân dân và Tổng lãnh sự quán các nước tại Việt Nam bày tỏ lòng tiếc thương vô hạn về sự ra đi của một nhà chỉ huy quân sự lỗi lạc, có tầm nhìn chiến lược, nhà lãnh đạo tài năng, đức độ trong lòng Nhân dân.






Chia sẻ niềm đau buồn và tổn thất cùng với Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam, nhiều đoàn đại biểu Đảng, Nhà nước, Chính phủ các nước anh em, bè bạn quốc tế; các Tổng Lãnh sự, Đại sứ, Đại biện các nước, đại diện các tổ chức quốc tế tại Việt Nam đã tới viếng và gửi Điện/Thư chia buồn về sự ra đi của Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh (1)
- Đoàn đại biểu cấp cao Vương quốc Cam-pu-chia do Thủ tướng Xăm-đéc Ạ-kẹ Mô-ha Xê-na Pa-đây Tê-chô Hun Xen làm Trưởng đoàn.
- Đoàn đại biểu cấp cao Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào do Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước Xay-xổm-phon Phôm-vi-hản làm Trưởng đoàn.
- Đoàn đại biểu cấp cao Cu-ba do Bộ trưởng Truyền thông Cu-ba Hoóc-hê Lu-i Pê-đô-mô Đi-len-la làm Trưởng đoàn.
- Đoàn đại biểu cấp cao Nhật Bản do Bộ trưởng Quốc phòng Ta-kê-si I-oa-y-a làm Trưởng đoàn.
- Đoàn Đại sứ, Đại biện, đại diện các tổ chức quốc tế tại Hà Nội do Trưởng đoàn Ngoại giao, Đại sứ Vê-nê-xu-ê-la Hoóc-hê Rôn-đôn U-ca-tê-ghi làm Trưởng đoàn.
- Các đoàn đại biểu nước ngoài, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện của các tổ chức quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh đã đến viếng và ghi Sổ tang nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh tại Hội trường Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nhận được tin nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh từ trần, lãnh đạo các nước Ấn Độ, Triều Tiên, Các Tiểu vương quốc A-rập thống nhất (UAE), Vương quốc Ô-man, Nhật Bản đã gửi Điện và Thư chia buồn tới lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Nhân dân Việt Nam và gia quyến nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh.
- Tổng thống Ấn Độ Ram Nát Cô-vin đã gửi Thư chia buồn
tới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Nội dung Thư chia buồn có đoạn: - “Tôi rất đau buồn được tin nguyên Chủ tịch nước, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Lê Đức Anh đã từ trần vào ngày 22/4/2019. Trong thời khắc đau buồn này, tôi xin gửi tới Chính phủ, Nhân dân Việt Nam, cùng gia quyến và người thân của Ngài Lê Đức Anh những lời chia buồn chân thành và sâu sắc nhất. Chủ tịch nước Lê Đức Anh là một nhà lãnh đạo kiệt xuất và là người bạn tốt của Ấn Độ. Ngài Lê Đức Anh mất đi là tổn thất to lớn đối với Chính phủ và Nhân dân Việt Nam”.
- Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân tối cao Triều Tiên Chuê Ri-ông He đã gửi Điện chia buồn tới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Trong Điện chia buồn, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân tối cao Triều Tiên Chuê Ri-ông He bày tỏ lời chia buồn sâu sắc tới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, tới Nhân dân Việt Nam và gia quyến của đồng chí Lê Đức Anh; đánh giá cao những cống hiến quan trọng của đồng chí Lê Đức Anh đối với sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh và phồn vinh.
- Tổng thống Các Tiểu vương quốc A-rập thống nhất Kha-li-pha Bin Da-ét Bin Xun-tan An Na-hi-an; Phó Tổng thống, Thủ tướng UAE kiêm Toàn quyền Đu-bai Mô-ham-mét Bin Ra-sít An Mác-tum; Thái tử A-bu Đa-bi, Phó Tổng Tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang UAE Mô-ham-mét Bin Da-ét An Na-hi-an đã gửi Điện chia buồn tới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng.
- Quốc vương Ô-man Ca-bút Bin Xa-ít đã gửi Điện chia buồn tới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng.
- Thủ tướng Nhật Bản Sin-dô A-bê đã gửi Điện chia buồn tới Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc. Trong Điện chia buồn, Thủ tướng Nhật Bản Sin-dô A-bê thay mặt Chính phủ và Nhân dân Nhật Bản gửi lời chia buồn sâu sắc nhất tới Chính phủ, Nhân dân và gia quyến nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh; bày tỏ lòng kính trọng và đánh giá cao những đóng góp to lớn của nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh đối với sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam.
- Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Nhật Bản Ca-dư-ô Si-i đã gửi Điện chia buồn tới Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Ta-rô Cô-nô, Bộ trưởng Ngoại giao I-ran Mô-ha-mét Gia-vát Da-ríp đã gửi Điện chia buồn tới Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh.
- Theo phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Cam-pu-chia, Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Cam-pu-chia tổ chức trọng thể Lễ viếng và mở sổ tang nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh. Sáng 03/5/2019, nhiều đoàn lãnh đạo cấp cao Cam-pu-chia đến viếng nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Đoàn đại biểu Quốc hội (QH) Cam-pu-chia do Xăm-đéc Hêng Xom-rin, Chủ tịch danh dự Đảng Nhân dân Cam-pu-chia, Chủ tịch QH, Chủ tịch Hội đồng Quốc gia Mặt trận Đoàn kết phát triển Tổ quốc Cam-pu-chia đến viếng nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Trong lời chia buồn ghi Sổ tang, Chủ tịch Quốc hội Cam-pu-chia nêu rõ: “Ngài Lê Đức Anh là người bạn thân thiết của Cam-pu-chia, có đóng góp to lớn trong việc giúp giải phóng Nhân dân Cam-pu-chia khỏi chế độ diệt chủng Pôn Pốt; giúp khôi phục, xây dựng và phát triển đất nước Cam-pu-chia”.
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Hoàng cung Cam-pu-chia Xăm-đéc Công Xom On đã đến viếng, đặt vòng hoa và chuyển Thư chia buồn của Quốc vương Nô-rô-đôm Xi-ha-mô-ni đến Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Đoàn của Đảng Nhân dân Cam-pu-chia (CPP) cầm quyền do Phó Chủ tịch CPP, Chủ tịch Thượng viện Xăm-đéc Xay Chum dẫn đầu; Đoàn Thượng viện do Chủ tịch Thượng viện Xăm-đéc Xay Chum dẫn đầu; Đoàn Hội đồng Khôi phục Phát triển nông nghiệp và nông thôn do Phó Thủ tướng Im Chay-ly dẫn đầu; cùng đại diện các bộ, ban, ngành khác của Cam-pu-chia đã tới viếng và ghi Sổ tang tưởng nhớ nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh.
Đại diện đoàn ngoại giao và các tổ chức quốc tế ở thủ đô Phnôm Pênh của Cam-pu-chia đến viếng nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh. Trong đó có, Đại sứ và đại diện Đại sứ quán các nước Cu-ba, Lào, Mỹ, Ô-xtrây-li-a, Xin-ga-po, Trung Quốc, Mi-an-ma, Phi-lip-pin, Bru-nây, Nga; Hội Phụ nữ Cam-pu-chia, Hội Liên hiệp Thanh niên Cam-pu-chia…
*Theo phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Lào, ngày 03/5/2019, tại trụ sở Đại sứ quán Việt Nam ở thủ đô Viêng Chăn, Lào; Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Bun-nhăng Vo-la-chít dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng, Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đến đặt vòng hoa viếng nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Quốc hội, Chính phủ và Trung ương Mặt trận Lào Xây dựng đất nước vô cùng thương tiếc đồng chí Lê Đức Anh”. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Bun-nhăng Vo-la-chít xúc động ghi Sổ tang: “Trong giờ phút đau thương vô hạn này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Quốc hội, Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Trung ương Mặt trận Lào Xây dựng đất nước và Nhân dân Lào vô cùng thương tiếc và xin được chia sẻ sự mất mát này đến Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Nhân dân Việt Nam anh em cũng như gia đình, thân quyến và bạn bè của đồng chí Lê Đức Anh”.
Cùng ngày, nhiều đoàn đại biểu, đại diện các ban, bộ, ngành, tổ chức đoàn thể, xã hội của Lào, đại diện một số tổ chức quốc tế, đại sứ quán nước ngoài tại Lào đến đặt vòng hoa và viếng nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh.
*Theo phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Liên bang (LB) Nga, ngày 03/5/2019, tại trụ sở Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga, Đại sứ quán đã tổ chức trọng thể Lễ mở sổ tang, viếng Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh. Trong bầu không khí trang nghiêm, xúc động, Đại sứ Việt Nam tại Liên bang Nga Ngô Đức Mạnh đã đọc điếu văn bày tỏ niềm tiếc thương vô hạn trước sự ra đi của đồng chí Lê Đức Anh. Điểm lại quãng đời hoạt động cách mạng của Đại tướng Lê Đức Anh, Đại sứ khẳng định đồng chí là một nhà lãnh đạo tài năng, một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng thời nhấn mạnh những đóng góp to lớn của đồng chí Lê Đức Anh đối với công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, bảo vệ vững chắc an ninh, chính trị và chủ quyền đất nước, mở rộng quan hệ quốc tế. Đại sứ, các cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và các cơ quan bên cạnh cùng các đại biểu dự buổi lễ đã dành một phút mặc niệm, thắp hương tưởng nhớ đồng chí Lê Đức Anh.
*Theo phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Pháp, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp đã tổ chức trọng thể Lễ viếng đồng chí nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh. Tham dự lễ viếng có cán bộ và nhân viên Đại sứ quán, các cơ quan đại diện Việt Nam tại Pháp. Đại sứ Việt Nam tại Pháp Nguyễn Thiệp điểm lại hơn 80 năm hoạt động cách mạng của đồng chí Lê Đức Anh với nhiều đóng góp to lớn đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc.
Đại sứ các nước Lào, Cam-pu-chia, Mi-an-ma; đại diện chính quyền Pháp, các Đại sứ quán khác và các phái đoàn ngoại giao tại Pháp, các hội đoàn Pháp – Việt Nam và Việt kiều đến viếng nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Trong lời chia buồn ghi vào Sổ tang, đại diện các đoàn đến viếng bày tỏ lời chia buồn sâu sắc trước sự ra đi của nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Đức Anh.
*Theo phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Thái-lan, ngày 03/5/2019, Đại sứ quán Việt Nam tại Thái-lan tổ chức trang trọng Lễ viếng và mở sổ tang nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh. Phó Chủ tịch Thứ nhất Hội đồng Lập pháp quốc gia (Quốc hội) Thái-lan X. Liêng-bun-lét-chai, Bộ trưởng Ngoại giao Đ. Pra-mút-vi-nai, Chủ tịch Nhóm nghị sĩ Hữu nghị Thái-lan – Việt Nam S. Ta-na-bun-chai, đại diện Đoàn ngoại giao, bà con Việt kiều đã đến viếng, đặt vòng hoa và ghi Sổ tang đồng chí Lê Đức Anh. Phó Chủ tịch X. Liêng-bun-lét-chai ghi sổ tang: “Thay mặt Quốc hội Vương quốc Thái-lan, tôi bày tỏ lời chia buồn sâu sắc tới nhân dân Việt Nam trước sự ra đi của nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Đức Anh”.
*Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ đã tổ chức trang trọng Lễ viếng và mở sổ tang tưởng nhớ nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh. Trong bầu không khí trang nghiêm, xúc động, toàn thể cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ cùng các cơ quan đại diện Việt Nam tại Niu Đê-li do Đại sứ Phạm Sanh Châu dẫn đầu đã dành một phút mặc niệm và thắp hương tưởng nhớ nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Thượng tọa Thích Hạnh Chánh, Trưởng ban tăng ni sinh cùng các tăng ni sinh Việt Nam đang sinh sống và học tập ở Ấn Độ cũng đến thắp hương và cầu siêu cho nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh.
Cùng ngày, đại diện các phái đoàn ngoại giao tại Ấn Độ như Đại sứ các nước Lào, Cu-ba, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ… cùng các quan chức Ấn Độ và bạn bè nước ngoài cũng đã đến viếng nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Trong sổ tang, bà Vi-giay Tha-cu Xinh, Bí thư (Thứ trưởng phụ trách khu vực) phương Đông, Bộ Ngoại giao Ấn Độ, đã thay mặt Nhân dân và Chính phủ Cộng hòa Ấn Độ bày tỏ lời chia buồn sâu sắc nhất trước sự ra đi của đồng chí Lê Đức Anh. Bà nhấn mạnh: “Nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh là nhà lãnh đạo xuất sắc, có đóng góp to lớn đối với sự nghiệp phát triển của Việt Nam. Nhân dân Ấn Độ sẽ luôn ghi nhớ vai trò
của đồng chí Lê Đức Anh trong việc làm sâu sắc tình hữu nghị Ấn Độ – Việt Nam”.*Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản đã tổ chức Lễ viếng và mở sổ tang tưởng niệm nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh. Thay mặt Hội đồng Thúc đẩy Ngoại giao Nhân dân (FEC) của Nhật Bản, ông Ken Ma-chư-da-oa, Chủ tịch FEC, và ông Hi-rô-i-u-ki Y-u-si-ta, nguyên Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam và hiện là Giám đốc Điều hành FEC, gửi lời chia buồn sâu sắc trước sự ra đi của nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh. Đại diện các nước Lào, Mi-an-ma và Ấn Độ tại Nhật Bản đều bày tỏ sự tiếc thương và kính trọng đối với nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh.
*Đại sứ quán Việt Nam tại In-đô-nê-xi-a đã tổ chức trang trọng Lễ viếng và mở sổ tang Đại tướng Lê Đức Anh. Trong bầu không khí trang nghiêm, xúc động, toàn thể cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại In-đô-nê-xi-a cùng các cơ quan đại diện Việt Nam tại Gia-các-ta do Đại sứ Phạm Vinh Quang dẫn đầu đã dành một phút mặc niệm và thắp hương tưởng nhớ nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại ASEAN do Đại sứ Trần Đức Bình dẫn đầu viếng và tưởng niệm nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Đến viếng và tưởng niệm nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh còn có đoàn đại biểu của Tổng cục Du lịch, Hội Lữ hành Hà Nội, Hiệp hội Du lịch Hà Nội… đang công tác tại In-đô-nê-xi-a.
Ban Thư ký ASEAN treo cờ rủ tại trụ sở ở Gia-các-ta trong hai ngày 03 và 04/5/2019. Tổng Thư ký ASEAN có kế hoạch đến viếng nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh vào sáng 04/5/2019.
*Đại sứ quán Việt Nam tại Ô-xtrây-li-a đã tổ chức Lễ viếng và mở sổ tang nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh. Đại sứ Ngô Hướng Nam cùng toàn thể cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và thân nhân, cùng cán bộ thuộc các cơ quan bên cạnh Đại sứ quán đã dành một phút mặc niệm nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Đại diện các đoàn ngoại giao, bà con Việt kiều, đại diện cộng đồng du học sinh Việt Nam tại Can-bơ-rơ đã vào viếng và ghi sổ tang Đại tướng Lê Đức Anh.
*Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Xít-ni và Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Pớt đã tổ chức trang trọng Lễ viếng và mở sổ tang nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh. Các cán bộ, nhân viên Tổng lãnh sự quán cùng các cơ quan đại diện khác của Việt Nam tại Xít-ni, đại diện Tổng lãnh sự quán các nước, đông đảo bạn bè Ô-xtrây-li-a và quốc tế, cùng bà con Việt kiều đã tới viếng, ghi sổ tang, gửi lời chia buồn sâu sắc tới gia đình nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh cũng như toàn thể nhân dân Việt Nam.
*Đại sứ quán Việt Nam tại Xin-ga-po mở cửa trong hai ngày 03 và 04/5/2019 để các cá nhân, tổ chức, cộng đồng người Việt Nam tại Xin-ga-po, Chính quyền sở tại cũng như các phái đoàn ngoại giao tới viếng và ghi Sổ tang nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh. Trong không khí trang nghiêm và xúc động, Đại sứ Tào Thị Thanh Hương cùng tập thể cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Xin-ga-po, các cơ quan đại diện Việt Nam tại Xin-ga-po và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại đây đã dành một phút mặc niệm tưởng nhớ nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh.
Thay mặt Chính phủ Xin-ga-po, Quốc vụ khanh phụ trách Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại giao Xin-ga-po, ông Ma-li-ki Ô-xman đã đến viếng và gửi lời chia buồn sâu sắc nhất tới Chính phủ, nhân dân Việt Nam về sự ra đi của nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Ông nhấn mạnh “nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh là một nhà lãnh đạo đáng kính và là người bạn tốt của Xin-ga-po. Ông đã có many đóng góp quan trọng trong việc làm sâu sắc hơn mối quan hệ hợp tác giữa Xin-ga-po và Việt Nam. Nhân dân Xin-ga-po luôn sát cánh cùng Nhân dân Việt Nam trước tổn thất quá lớn này”.
Đại sứ các nước tại Xin-ga-po gồm: Cam-pu-chia, Cu-ba, Nhật Bản, Anh, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Ai Cập, Ni-giê-ri-a, Ru-ma-ni, Ru-an-đa; cùng đại diện đoàn ngoại giao và bạn bè quốc tế đã tới viếng, gửi vòng hoa và chia buồn.
*Đại sứ quán Việt Nam tại Niu Di-lân đã tổ chức Lễ viếng và mở sổ tang đồng chí Đại tướng, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Dự lễ viếng có toàn thể cán bộ Đại sứ quán, đại diện bà con Việt kiều và sinh viên Việt Nam đang theo học tại Niu Di-lân. Thay mặt Đại sứ quán, Đại sứ Tạ Văn Thông bày tỏ lòng tiếc thương vô hạn trước sự ra đi của nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh.
Ngày 03/5/2019, đông đảo các Đại sứ, Trưởng cơ quan đại diện nước ngoài thường trú tại Thủ đô Oen-linh-tơn, cùng đại diện các cơ quan Chính phủ và bạn bè Niu Di-lân đến ghi Sổ tang tưởng nhớ nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh.
*Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Khu Hành chính đặc biệt Hồng Kông (Trung Quốc) đã tổ chức Lễ viếng và mở sổ tang tưởng niệm đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh. Đại diện Văn phòng Đặc phái viên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc tại Hồng Kông, đại diện Chính quyền Khu Hành chính đặc biệt Hồng Kông, các Tổng lãnh sự quán các nước ASEAN cùng cơ quan đại diện ngoại giao nhiều nước khác tại Hồng Kông đã đến viếng nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh, chia buồn với sự mất mát lớn của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam.
*Đại sứ quán Việt Nam tại Ma-lai-xi-a tổ chức trọng thể Lễ viếng và mở sổ tang tưởng niệm nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh với sự có mặt của toàn thể cán bộ, nhân viên Đại sứ quán cùng các cơ quan đại diện Việt Nam tại Ma-lai-xi-a. Đoàn của Chính phủ Ma-lai-xi-a do Thứ trưởng Ngoại giao H. Y-a-i-a dẫn đầu đã gửi lời chia buồn sâu sắc tới Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam. Thứ trưởng đánh giá cao những đóng góp của nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh trong việc tăng cường quan hệ giữa hai nước. Gần 30 đoàn đại diện các nước tại Ma-lai-xi-a cũng đến viếng, chia buồn và ghi Sổ tang.
*Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc đã tổ chức trang trọng Lễ viếng và mở sổ tang nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Thứ trưởng Ngoại giao Hàn Quốc Li Tê-hô đã tới viếng Đại tướng Lê Đức Anh. Nhiều đoàn đại sứ quán các nước tại Hàn Quốc như Lào, Mi-an-ma, Bru-nây, Ai-len, Mê-hi-cô, Ăng-gô-la, Gru-di-a, I-ran, I-rắc, Mỹ, Ni-giê-ri-a, Xi-ê-ra Lê-ôn, Bun-ga-ri, Ru-an-đa, Thái-lan, Các Tiểu vương quốc A-rập thống nhất, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, Xri Lan-ca, Băng-la-đét, Áp-ga-ni-xtan, Bô-li-vi-a và Cô-oét cũng đã đến viếng và ghi sổ tang đồng chí Lê Đức Anh.
*Đại sứ quán và Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Đức đã mở cửa để các cá nhân, tổ chức, cộng đồng người Việt Nam tại Đức, chính quyền nước sở tại, cũng như các phái đoàn ngoại giao tới viếng và ghi sổ tang Đại tướng Lê Đức Anh. Đại sứ các nước tại Đức, bao gồm Tây Ban Nha, Cộng hòa Cô-xta Ri-ca, U-crai-na, Gia-mai-ca, Cam-pu-chia, Ma-lai-xi-a, Buốc-ki-na Pha-xô…,cùng đại diện đoàn ngoại giao, Hội hữu nghị Đức – Việt Nam và bạn bè quốc tế đã tới viếng và chia buồn.
*Phái đoàn Thường trực Việt Nam bên cạnh Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và các tổ chức quốc tế khác tại Giơ-ne-vơ (Thụy Sĩ) đã tổ chức Lễ viếng, mở sổ tang nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Đại sứ Dương Chí Dũng, Trưởng phái đoàn Việt Nam tại Giơ-ne-vơ cho biết, trong những ngày qua, rất nhiều phái đoàn, các tổ chức quốc tế gửi lời chia buồn tới Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Giơ-ne-vơ, cũng như chuyển đến Chính phủ, Nhân dân Việt Nam lời chia buồn sâu sắc, bày tỏ tình đoàn kết với Việt Nam.
*Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Bỉ đã trang trọng tổ chức Lễ viếng và mở sổ tang tưởng nhớ Đại tướng Lê Đức Anh. Tham dự lễ viếng có toàn thể cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Bỉ và Đại Công quốc Luých-xăm-bua, các cơ quan đại diện Việt Nam tại Bỉ, Phái đoàn đại diện Việt Nam bên cạnh Liên hiệp châu Âu (EU), đại diện cộng đồng người Việt Nam sinh sống tại Vương quốc Bỉ. Đến viếng và ghi sổ tang còn có đoàn đại diện Bộ Ngoại giao Vương quốc Bỉ, Đại sứ quán các nước Bru-nây, Cam-pu-chia, Lào, Phi-lip-pin, Tây Ban Nha, Hon-đu-rát, Ni-giê-ri-a…
*Đại sứ quán Việt Nam tại I-xra-en đã tổ chức trọng thể Lễ viếng và mở sổ tang Đại tướng Lê Đức Anh. Đại sứ quán đón tiếp nhiều bà con Việt kiều, lưu học sinh và đại diện nước sở tại, Đại sứ các nước tại I-xra-en tới viếng và ghi Sổ tang Đại tướng Lê Đức Anh.
*Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Anh đã tổ chức trang trọng Lễ viếng và mở sổ tang tưởng nhớ Đại tướng Lê Đức Anh. Viết trong Sổ tang, Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao Anh M. Phin đã thay mặt Nhân dân và Chính phủ Anh bày tỏ chia buồn sâu sắc trước sự ra đi của Đại tướng Lê Đức Anh. Nhiều Đại sứ các nước tại Anh cũng đến chia buồn, ghi Sổ tang tại Đại sứ quán.
*Theo phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Liên bang Nga, sáng 03/5/2019, Đại sứ quán Việt Nam tại U-crai-na tổ chức Lễ mở sổ tang và viếng đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh. Đại diện Bộ Ngoại giao U-crai-na và đại diện các cơ quan ngoại giao, các tổ chức quốc tế, cơ quan lãnh sự tại Thủ đô Ki-ép, đại diện Hội hữu nghị U-crai-na – Việt Nam, lãnh đạo Trường phổ thông Trung học mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh và đại diện các hội, đoàn của cộng đồng người Việt Nam tại U-crai-na đã đến viếng, ghi Sổ tang, gửi Điện chia buồn, tỏ lòng thương tiếc tới Chính phủ, Nhân dân Việt Nam và toàn thể gia quyến đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh.
*Ngày 03/5/2019, Đại sứ quán Việt Nam tại Băng-la-đét tổ chức trọng thể Lễ viếng và mở sổ tang nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh tại trụ sở Đại sứ quán. Thứ trưởng Ngoại giao Băng-la-đét; Nghị sĩ, Chủ tịch Đảng Công nhân Băng-la-đét; Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Băng-la-đét; Đại sứ, Đại biện các nước; Chủ tịch Phòng Thương mại Công nghiệp Băng-la-đét – Việt Nam và cộng đồng người Việt Nam tại Băng-la-đét đã tới viếng và viết Sổ tang tưởng nhớ Đại tướng Lê Đức Anh.
* Ngày 03/5/2019, một số cơ quan truyền thông nước ngoài đưa tin nêu bật những đóng góp của Đại tướng Lê Đức Anh đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc Việt Nam.
Trang Freshnews – một trong những trang mạng có lượng độc giả lớn nhất tại Cam-pu-chia, bản tiếng Khmer đưa tin “Nguyên Chủ tịch nước Việt Nam Lê Đức Anh từ trần ở tuổi 99”, trong đó nêu rõ nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh từng là vị tướng chỉ huy lực lượng quân đội Việt Nam giúp Cam-pu-chia lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt.
*Bản tiếng Anh tờ Phnom Penh Post (Bưu điện Phnôm Pênh) của Cam-pu-chia đã đăng trên trang nhất tin nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh từ trần, trong đó nhấn mạnh nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh là nhân vật nổi bật với một di sản ở Cam-pu-chia, với vai trò được ghi nhận nhiều nhất là Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Cam-pu-chia, giúp Nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng Khmer Đỏ năm 1979. Trong khi đó, tờ Rasmei Kampuchea (Tia Sáng Cam-pu-chia), có lượng phát hành lớn nhất tại Cam-pu-chia cũng đã đăng tiểu sử về cuộc đời và hoạt động cách mạng của nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh.
*Tờ Bưu điện Oa-sinh-tơn (Mỹ) cũng đăng bài viết về nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh với vai trò là người chỉ huy Quân tình nguyện Việt Nam sang Cam-pu-chia giúp lật đổ chế độ Khmer Đỏ, đồng thời là người chứng kiến sự kiện Mỹ và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao. Theo bài báo, Đại tướng Lê Đức Anh đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến đấu giải phóng hoàn toàn miền Nam với tư cách là Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Năm 1974, ông trở thành Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, góp phần phát động cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn
miền Nam, thống nhất đất nước. Bài báo nhắc lại Đại tướng Lê Đức Anh được biết đến nhiều nhất với vai trò hỗ trợ Cam-pu-chia lật đổ chế độ Khmer Đỏ tàn bạo, là “kiến trúc sư” của chiến dịch giúp chấm dứt gần bốn năm cai trị của chính quyền Pôn Pốt, cũng như ngăn chặn chế độ diệt chủng quay trở lại Cam-pu-chia. Bài báo khẳng định, với tư cách là Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh đóng vai trò quan trọng trong việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Mỹ.* Ngày 02/5/2019, Tổng thống Nicaragoa Daniel Ortega Saavedra, Phó Tổng thống Nicaragoa Rosario Murillo; Tổng thống Mông Cổ Khaltmaa Battulga đã đồng gửi Thư chia buồn tới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, trước sự ra đi của nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh.
*Thủ tướng Vương quốc Cam-pu-chia Samdech Akka Moha Sena Padei Techo Hun Sen đã gửi Thư chia buồn tới Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc. Nội dung toàn văn bức Thư như sau:
“Kính gửi: Ngài Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Thưa Ngài,
Tôi vô cùng đau buồn được tin nguyên Chủ tịch nước, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Đức Anh đã từ trần ngày 22/4/2019.
Một nhà lãnh đạo đáng kính, người bạn tốt của Cam-pu-chia mất đi là sự tổn thất to lớn. Ngài Lê Đức Anh là một lãnh đạo anh hùng, đã cống hiến không mệt mỏi cho sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Sự tận tụy của Ngài Lê Đức Anh đối với đất nước, cùng những đóng góp của Ngài cho sự nghiệp giải phóng Cam-pu-chia thoát khỏi chế độ diệt chủng Khơ-me Đỏ sẽ mãi được ghi nhớ.
Trong giờ phút đau thương này, tôi xin gửi lời chia buồn sâu sắc tới Ngài Thủ tướng và qua Ngài, tới gia quyến Ngài Lê Đức Anh.
Xin gửi tới Ngài lời chào trân trọng nhất”.
*Cùng ngày, Bộ trưởng Ngoại giao Thái-lan Don Pramudwinai đã gửi Điện chia buồn tới Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh. Chủ tịch Liên minh Nghị sĩ hữu nghị Nhật Bản-Việt Nam, Tổng thư ký Đảng Tự do – Dân chủ Nhật Bản Toshihiro Nikai cũng gửi Điện chia buồn tới Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Vũ Hồng Nam. Lãnh đạo các nước Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia, Cu-ba đã gửi Điện/Thư chia buồn tới lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, Nhân dân Việt Nam và gia quyến nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh.
Nhận được tin nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh từ trần, lãnh đạo các nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Cam-pu-chia, Cu-ba đã gửi Điện/Thư chia buồn tới lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, Nhân dân Việt Nam và gia quyến nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh.
Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã gửi Điện chia buồn tới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Nội dung bức Điện viết:
“Được tin đồng chí Lê Đức Anh từ trần, thay mặt Đảng, Chính phủ, Nhân dân Trung Quốc và nhân danh cá nhân tôi xin gửi tới
đồng chí và thông qua đồng chí gửi tới Đảng, Chính phủ, Nhân dân Việt Nam cùng gia quyến đồng chí Lê Đức Anh lời chia buồn sâu sắc.Đồng chí Lê Đức Anh đã có cống hiến quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam, luôn không ngừng nỗ lực trong việc thúc đẩy quan hệ hai nước Trung – Việt phát triển. Đồng chí Lê Đức Anh ra đi, Nhân dân Việt Nam mất đi một nhà lãnh đạo kiệt xuất, Nhân dân Trung Quốc mất đi một người bạn thân thiết”.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Quốc hội, Chính phủ Lào, Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước đồng gửi Điện chia buồn tới Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ nước ta và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Bức Điện viết:
“Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Quốc hội, Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước, chúng tôi bày tỏ lòng tiếc thương vô hạn trước việc đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa V, VI, VII, VIII, nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nguyên đại biểu Quốc hội khóa VI, VIII, IX, từ trần.
Chúng tôi đánh giá cao sự đóng góp to lớn của đồng chí Lê Đức Anh trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây cũng như trong sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước của Việt Nam trong hơn 80 năm qua.
Đồng chí Lê Đức Anh đã góp phần quan trọng vào việc tăng cường mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa Lào và Việt Nam trong suốt thời gian. Đồng chí Lê Đức Anh từ trần, không chỉ Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam mất đi một nhà lãnh đạo kính yêu, mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân Lào chúng tôi cũng mất đi một người bạn thân thiết, gần gũi”.
Chủ tịch Đảng Nhân dân Cam-pu-chia, Samdech Akka Moha Sena Padei Techo Hun Sen đã gửi Thư chia buồn tới Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Nội dung bức Thư viết:
“Tôi rất đau buồn khi nhận được tin Ngài Lê Đức Anh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã từ trần tối 22 tháng 4 năm 2019.
Ngài Lê Đức Anh là một nhà lãnh đạo có đóng góp rất to lớn trong việc xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam.
Ngài Lê Đức Anh mất đi, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhân dân Việt Nam mất đi một nhà lãnh đạo lớn”.
Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng Cu-ba Miguel Díaz-Canel Bermúdez đã gửi Điện chia buồn tới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Bức Điện viết:
“Thay mặt Nhân dân và Chính phủ Cu-ba, tôi xin bày tỏ với các đồng chí niềm tiếc thương sâu sắc khi biết tin đồng chí Lê Đức Anh, người bạn thân thiết, người đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển mối quan hệ mật thiết giữa Cu-ba và Việt Nam từ trần”.
Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cu-ba Raúl Castro Ruz đã gửi Điện chia buồn tới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Nội dung bức Điện viết:
“Được tin đồng chí Lê Đức Anh từ trần, thay mặt Đảng Cộng sản Cu-ba và Nhân dân Cu-ba, tôi xin gửi tới đồng chí và qua đồng chí, tới gia quyến đồng chí Lê Đức Anh lời chia buồn sâu sắc nhất”.


Tại quê nhà tỉnh Thừa Thiên Huế, Lễ viếng, truy điệu Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh được tổ chức trọng thể cùng ngày 03/5/2019

Thực hiện tinh thần chỉ đạo của Trung ương về tổ chức Lễ truy điệu Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Công văn số 1341, ngày 28/4/2019 về tổ chức Lễ viếng, Lễ truy điệu nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh.
Theo đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo Lễ viếng, Lễ truy điệu Đại tướng Lê Đức Anh gồm 18 thành viên. Trong đó:
Đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh Lê Trường Lưu làm Trưởng ban;
Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Bùi Thanh Hà làm Phó Trưởng ban;
Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Phan Ngọc Thọ làm Phó Trưởng ban.
Ngoài ra, Ban chỉ đạo Lễ viếng, lễ truy điệu Đại tướng Lê Đức Anh còn có:
Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Nhân dân tỉnh Cái Vĩnh Tuấn;
Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nguyễn Nam Tiến;
Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Chỉ huy Trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Đại tá Nguyễn Hồng Sơn;
Ủy viên Thượng vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Công an tỉnh, Đại tá Nguyễn Quốc Đoàn;
Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Đoàn Thị Thanh Huyền;
Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Phan Văn Quang;
Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Nội chính Tỉnh ủy Hồ Văn Hải;
Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Nguyễn Thái Sơn;
Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy Phan Xuân Toàn;
Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy Huế Huỳnh Cư;
Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy Khối các Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh Nguyễn Quang Tuấn;
Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Nguyễn Văn Phương;
Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tài chính Huỳnh Ngọc Sơn;
Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Phú Lộc Đặng Ngọc Trân;
Bí thư Đảng ủy xã Lộc An Nguyễn Bùi.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy khẳng định, các đơn vị, ban, ngành, đoàn thể, địa phương trong toàn tỉnh thông báo về chương trình, kế hoạch, lễ viếng nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng; đảm bảo an ninh trật tự; mở các chuyên mục tuyên truyền về Đại tướng; biến đau thương thành hành động tu dưỡng đạo đức cách mạng gắn với học và làm theo gương Bác…
Trách nhiệm của các đơn vị, ban, ngành, đoàn thể, chính quyền địa phương trong tỉnh là thông báo rộng rãi, đầy đủ đến cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, các tầng lớp Nhân dân, lực lượng vũ trang trên địa bàn biết Đại tướng Lê Đức Anh từ trần; ngày 03 và 04/5/2019 các công sở, nơi công cộng phải treo cờ rủ và ngừng các hoạt động vui chơi, giải trí …
Tại xã Lộc An (Phú Lộc) – quê hương Đại tướng Lê Đức Anh, công tác chuẩn bị để tổ chức cho cán bộ, đảng viên, quần chúng Nhân dân đến viếng Đại tướng cũng đã được chuẩn bị chu đáo.
Tại Hội trường Ủy ban Nhân dân tỉnh:
Vào lúc 07 giờ sáng 03/5/2019, Lễ viếng Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh được tổ chức trọng thể tại Hội trường UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, quê hương của Đại tướng.
Đoàn đại biểu Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân tỉnh, Ủy ban Nhân dân tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế, lãnh đạo Quân khu 4, do Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội Thừa Thiên Huế Phan Ngọc Thọ dẫn đầu, đã đặt vòng hoa viếng và kính cẩn nghiêng mình trước lễ đài, nơi đặt ban thờ có chân dung Đại tướng Lê Đức Anh – người con ưu tú của quê hương Thừa Thiên Huế. Tiếp đến là các đoàn đại biểu Hội đồng họ Lê tỉnh Thừa Thiên Huế; Đảng bộ, Chính quyền, Nhân dân huyện Phú Lộc; Đảng bộ và Nhân dân xã Lộc An đã vào viếng nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh. Cũng trong sáng 03/5, tại quê nhà ở làng Bàn Môn, xã Lộc An, huyện Phú Lộc (tỉnh Thừa Thiên Huế), lãnh đạo Huyện ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Phú Lộc; các phòng, ban, cơ quan, đơn vị tại huyện và xã Lộc An cùng đông đảo bà con dòng họ, làng xóm tại Lộc An đến chia buồn, dự lễ viếng nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh tại nhà thờ dòng tộc của Đại tướng.
Trong niềm tiếc thương sâu sắc, trong sáng 03/5/2019, hơn 1.000 đoàn đại diện các cơ quan, đoàn thể, địa phương, đơn vị, lực lượng vũ trang Nhân dân, nhân sĩ trí thức, chức sắc tôn giáo, tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế đã đến viếng nguyên Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nhiều lãnh đạo, đoàn ngoại giao, bạn bè quốc tế đã gửi Thư, Điện chia buồn cùng Đảng, Nhà nước, Nhân dân Việt Nam và gia quyến đồng chí Lê Đức Anh.






Tại quê nhà làng Bàn Môn, xã Lộc An, huyện Phú Lộc cũng diễn ra Lễ viếng Chủ tịch nước – Đại tướng Lê Đức Anh, người con ưu tú của quê hương.



