Hồi kháng chiến chống đế quốc Mỹ, có những lần về dự hội nghị, đồng chí Lê Đức Anh thay mặt Bộ Chỉ huy Miền chỉ đạo, qua đó tôi biết đồng chí rất quan tâm và am hiểu chiến trường Bà Rịa – Vũng Tàu.
Cuối năm 1967, chuẩn bị bước vào chiến dịch tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, tại căn cứ U1 – Tỉnh uỷ Biên Hoà, đồng chí Lê Đức Anh đã nhấn mạnh vị trí chiến lược của chiến trường Bà Rịa – Vũng Tàu, là địa bàn quan trọng, vùng cửa ngõ đông bắc áp sát Sài Gòn. Mỹ – tập trung ở đây một số lượng lớn quân viễn chinh Mỹ, quân chư hầu (quân đội Hoàng gia Ôxtrâylia, Thái Lan, pháo binh Niu Dilân) và quân chủ lực nguỵ để bình định địa bàn này. Đối với ta, đây cũng là địa bàn để xây dựng căn cứ, bàn đạp áp sát Sài Gòn đánh vào nội đô, hậu cứ, thủ phủ của địch. Chiến trường Bà Rịa – Vũng Tàu còn là cửa ngõ đường biển tiếp nhận vũ khí chi viện từ miền Bắc vào miền Đông Nam Bộ. Vì vậy, cùng với việc xây dựng phương án đánh vào nội đô, hậu cứ của địch, cần hết sức chú ý xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, kết hợp ba mũi giáp công đánh địch, chống lấn chiếm, bảo vệ vùng căn cứ, tạo địa bàn đứng chân cho bộ đội chủ lực, tạo thế và lực để tiến công vào sào huyệt cuối cùng của địch.

Mùa khô năm 1972, tại hội nghị triển khai nghị quyết của Trung ương Cục và chủ trương của Bộ Tư lệnh Miền “Chồm lên – chiếm lĩnh, tạo thế lực trước khi ta ký kết Hiệp định Paris”, đồng chí Lê Đức Anh một lần nữa khẳng định lại tầm quan trọng của chiến trường Bà Rịa – Vũng Tàu, là “chân thang” của cuộc chiến tranh xâm lược. Đây là nơi đế quốc Mỹ đổ quân leo thang chiến tranh, đồng thời cũng là hành lang quan trọng, là “chân thang” để chúng rút quân. Vì thế, vừa phải chú trọng đánh sâu vào trung tâm đầu não của địch, vừa phải chú trọng chống phá bình định, tích cực đánh địch không cho chúng mở rộng thể làm chủ ở vùng nông thôn; ta phải mở rộng vùng giải phóng và đánh địch khi Hiệp định Paris được ký kết.
Những ý kiến chỉ đạo của đồng chí Lê Đức Anh đã giúp Tỉnh uỷ Bà Rịa – Long Khánh nhận thức rõ hơn về vị trí chiến lược và nhiệm vụ của quân và dân toàn tỉnh trong kháng chiến chống Mỹ. Có thể nói, đồng chí Lê Đức Anh là vị tướng sâu sát thực tế chiến trường.
Sau ngày giải phóng, tôi làm Bí thư kiêm Chủ tịch Uỷ ban quân quản thành phố Vũng Tàu. Những ngày sau chiến thắng 30-4-1975, đồng chí Lê Đức Anh về làm việc với Thành uỷ – Uỷ ban quan quản thành phố Vũng Tàu. Khi đó, mọi việc còn ngổn ngang, bề bộn. Đồng chí Lê Đức Anh đã kiểm tra tình hình quân quản các mặt của thành phố và có nhiều ý kiến chỉ đạo. Đồng chí quán triệt nhiệm vụ quan trọng, trước mắt là truy quét tàn quân địch, bảo vệ chính quyền cách mạng, đồng thời phải ổn định đời sống cho đồng bào, tổ chức sản xuất và cứu đói cho nhân dân, tạo niềm tin cho nhân dân vào chế độ mới.
Đồng chí đặc biệt quan tâm chỉ đạo việc củng cố bộ máy chính quyền và xây dựng đội ngũ cán bộ sau chiến tranh, chú trong xây dựng nhận thức, quan điểm chính trị và tổ chức vững mạnh. Về công tác cán bộ, bên cạnh việc bố trí cho những cán bộ đã có nhiều cống hiến trong chiến tranh, cần phải chú ý sử dụng các cơ sở tại chỗ, phát huy tinh thần cách mạng và sự đóng góp của các cơ sở trong giai đoạn mới của cách mạng.
Được biết có sự chỉ đạo của Bộ Chỉ huy Miền, tỉnh đã tổ chức đưa cán bộ và lực lượng ra giải phóng và tiếp quản Côn Đảo, đồng chí rất mừng và chỉ đạo phải phối hợp với bộ đội Hải quân tổ chức tốt việc đón tù chính trị Côn Đảo trở về. Đồng chí đề nghị thành phố Vũng Tàu phải thay mặt cho Đảng, Chính phủ và nhân dân cả nước đón tiếp và chăm sóc chu đáo anh chị em tù chính trị Côn Đảo, thông báo cho các tỉnh đến đón anh chị em về địa phương. Trong trường hợp các tỉnh chưa có điều kiện đưa đón thì Vũng Tàu cần chủ động tổ chức xe đưa anh chị em về bàn giao cho địa phương. Đây là những cán bộ cốt cán, gạo cội của Đảng đã được trui rèn, thử thách. Anh chị em đã bị địch tra tấn, tù đày trong hoàn cảnh nghiệt ngã, cần phải được chăm sóc thật chu đáo để sớm phục hồi sức khoẻ, để trở về địa phương, gia đình, tiếp tục đóng góp cho Đảng trên những lĩnh vực công tác mới.
Chúng tôi rất tâm đắc những ý kiến chỉ đạo của đồng chí. Ngay từ những ngày đầu giải phóng, một vị tướng lĩnh đã có những ý kiến chỉ đạo rất toàn diện về khắc phục hậu quả chiến tranh, về những vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc và công tác tổ chức cán bộ sau chiến tranh. Thực hiện sự chỉ đạo của đồng chí, Thành uỷ và Uỷ ban quân quản thành phố Vũng Tàu đã tập trung chỉ đạo đón anh chị em tù chính trị Côn Đảo trở về. Từ ngày 5-5-1975 đến 18-5-1975, đã phối hợp với lực lượng Hải quân tổ chức hơn 4.000 đồng chí. Các đồng chí mang bệnh nan y đón về trong chuyến đầu tiên (ngày 5 tháng 5) được đưa ngay đến bệnh viện, được chăm sóc trong những điều kiện tốt nhất. Các đồng chí về trong những chuyến tiếp theo được đưa đến nhà nghỉ và chúng tôi đã tập trung mọi điều kiện vật chất để chăm lo phục hồi sức khỏe. Qua trao đổi với các tỉnh và sự chỉ đạo của trên, Uỷ ban quân quản thành phố Sài Gòn và các tỉnh đã lần lượt phối hợp với chúng tôi tổ chức đưa đón anh chị em về địa phương. Thành uỷ, Uỷ ban quân quản thành phố Vũng Tàu đã tổ chức xe đưa anh chị em về một số tỉnh miền Trung và miền Tây Nam Bộ mà địa phương chưa kịp đưa xe đến đón, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của anh chị em sớm được trở về quê hương và tham gia công tác. Trong những dịp tiếp xúc với anh chị em tù chính trị, chúng tôi đã truyền đạt lại sự quan tâm của Đảng, Chính phủ cùng những ý kiến chỉ đạo của đồng chí Lê Đức Anh, động viên anh chị em yên tâm điều dưỡng và chờ sự phân công của Đảng. Trong những dịp trở lại thăm Vũng Tàu, Côn Đảo, anh chị em tù chính trị Côn Đảo còn bày tỏ niềm xúc động về sự quan tâm của Đảng, sự chăm lo tận tình của Đảng bộ và nhân dân thành phố Vũng Tàu trong những ngày đầu tiên đặt chân lên đất liền, giữa không khí hân hoan mừngmiền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối.
Trong các kỳ ra họp Hội nghị Trung ương, Đại tướng Lê Đức Anh thường gặp gỡ chúng tôi, ân cần hỏi thăm tình hình Bà Rịa – Vũng Tàu; rất vui mừng về sự phát triển mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng. Đại tướng động viên và nhắc nhở không nên chủ quan, thoả mãn với thành tích, mà phải biết phát huy thế mạnh của tỉnh, xây dựng Đảng bộ vững mạnh, đoàn kết nội bộ là nhân tố quyết định thắng lợi.
Năm 1994, trên cương vị Chủ tịch nước, đồng chí về thăm tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vẫn gần gũi và thân thương như một người anh cả, vẫn trầm tĩnh và sâu sát với thực tiễn như vị tướng chiến trường xưa, Chủ tịch đã lắng nghe các đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh và các ban ngành báo cáo tình hình. Chủ tịch căn dặn phải rất chú ý đến vị trí quan trọng của tỉnh trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam: Thành phố Hồ Chí Minh – Đồng Nai – Bình Dương – Bà Rịa – Vũng Tàu, trong đó Bà Rịa – Vũng Tàu có ngành kinh tế mũi nhọn của cả nước là dịch vụ khai thác dầu khí, có thế mạnh về kinh tế biển. Để phát huy thế mạnh, Bà Rịa – Vũng Tàu cần phát triển mạnh các ngành dịch vụ, du lịch, đánh bắt và chế biến hải sản, xây dựng hệ thống cảng dịch vụ, du lịch, đóng – sửa tàu thuyền. Khi được biết các cơ sở sửa chữa tàu thuyền của tỉnh còn nhỏ yếu, mới phục vụ được một mức độ của ngành đánh bắt hải sản, còn toàn bộ các tàu dịch vụ dầu khí đều phải đi sửa chữa định kỳ tại Xingapo, Chủ tịch Lê Đức Anh đã chỉ đạo địa phương phải hết sức quan tâm, có kế hoạch cụ thể trình Chính phủ để phát triển ngành đóng sửa tàu, vừa phục vụ khai thác dầu khí, đáp ứng dịch vụ tu sửa tàu, không phải đưa đi Singapo, tiết kiệm ngoại tệ và tiết kiệm thời gian hoạt động cho tàu dịch vụ.
Về phương diện này, đúng là trong nhiều năm, từ thời là Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo đã có một xí nghiệp sửa chữa tàu thuyền, nhưng do thiếu sự đầu tư và chỉ đạo nên hoạt động không hiệu quả. Ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Lê Đức Anh đã được Tỉnh uỷ nghiêm túc tiếp thu và sớm triển khai thực hiện. Với nhiều nguồn vốn huy động, một công ty đóng tàu và dịch vụ dầu khí (VUNGTAU SHIPYARD) đã ra đời và hoạt động có hiệu quả. Công ty đã xây dựng được ụ tàu 3.000 tấn, phục vụ tốt việc sửa chữa định kỳ cho số tàu dịch vụ dầu khí, tiết kiệm được nhiều thời gian và ngoại tệ cho ngành dầu khí so với trước đây phải đưa đi Xingapo sửa chữa.
Với tư duy của một vị tướng gần trọn đời gắn bó với chiến trường, Chủ tịch Lê Đức Anh đặc biệt quan tâm đến công tác phòng thủ, bảo vệ khu công nghiệp dầu khí và bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia trên biển. Trong lịch sử chiến tranh, Bà Rịa – Vũng Tàu là địa bàn mà thực dân Pháp, phát xít Nhật và đế quốc Mỹ sử dụng làm đầu cầu đổ quân, tiến hành chiến tranh xâm lược. Vì thế, cần phải xây dựng khu vực phòng thủ vững mạnh, thường xuyên diễn tập sẵn sàng chiến đấu, chống bạo động, xây dựng các công trình phòng thủ vững chắc từ nội địa, bảo đảm sẵn sàng đánh địch trong mọi tình huống, đồng thời phải xây dựng lực lượng dân quân tự vệ trên biển trong các đội tàu đánh cá, kết hợp với lực lượng công an và bộ đội biên phòng tham gia chống vượt biến và chống xâm nhập. Đối với Côn Đảo – một quần đảo có vị trí tiền tiêu về quân sự, phải chú trọng xây dựng các công trình phòng thủ, bảo đảm đánh địch trong mọi tình huống, đồng thời liên kết các đội tàu đánh cá trên vùng biển, tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân, kết hợp giữa đánh bắt với tuần tra, bảo vệ. Tại đây phải xây dựng được một cơ cấu dân cư hợp lý. Dân không nhất thiết đông, nhưng phải bảo đảm ngành nghề hợp lý, bảo đảm phát huy tiềm năng kinh tế biển, chú trọng các ngành du lịch, phát triển cảng và dịch vụ hải sản, khai thác và chế biến, xuất khẩu.
Thực hiện sự chỉ đạo của Chủ tịch, Tỉnh đã kết hợp với Quân khu xây dựng các công trình phòng thủ, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ trên biển, tổ chức diễn tập hàng năm đạt kết quả tốt, bảo đảm sẵn sàng đánh địch trong mọi tình huống. Đội tàu của Xí nghiệp đánh cá và xuất nhập khẩu Côn Đảo là một trong những đơn vị hoạt động có hiệu quả và có phong trào dân quân tự vệ mạnh, kết hợp giữa sản xuất với tuần tra phòng thủ vùng biển Côn Đảo.
Trong chuyến thăm và làm việc lần này, Chủ tịch Lê Đức Anh rất quan tâm chỉ đạo công tác xây dựng Đảng. Để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá – hiện đại hoá, cần phải xây dựng đội ngũ cán bộ tại chỗ có kiến thức, có trình độ quản lý kinh tế – kỹ thuật, có khả năng sử dụng và phát huy được nguồn vốn và kỹ thuật từ bên ngoài, đồng thời giải quyết lao động tại chỗ. Đặc biệt là phải chú trọng xây dựng khối đoàn kết, từ Đảng bộ đến chính quyền và các đoàn thể nhân dân, nhất là đoàn kết nội bộ. Với lợi thế về địa lý, về tiềm năng của khu vực kinh tế trọng điểm, Bà Rịa – Vũng Tàu thu hút được nguồn cán bộ và lao động có kỹ thuật trong cả nước, tăng cường tiềm lực trên địa bàn, Song điều đó sẽ tạo ra những phức tạp mới. Vì thế, phải thường xuyên chú trọng công tác xây dựng Đảng, kiên quyết đấu tranh chống lại các biểu hiện cục bộ, bè phái, chia rẽ, mất đoàn kết. Có như vậy mới phát huy được các thế mạnh của địa phương.
Trong xu thế mở cửa và hội nhập, cần phải hết sức quan tâm bảo vệ an ninh trật tự, chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch. Phải chú trọng xây dựng đoàn kết dân tộc và đoàn kết tôn giáo, cảnh giác với những âm mưu chia rẽ và kích động của các thế lực thù địch. Thực hiện đoàn kết phải phân biệt rõ những người tu hành chân chính với những kẻ phản động đội lốt tôn giáo để có đối sách thích hợp. Trên địa bàn khá phức tạp về dân cư và tôn giáo, cần phải có kế hoạch bảo vệ an ninh chính trị, bảo vệ an ninh kinh tế và bảo vệ các chuyên gia dầu khí.
Trong lần làm việc này, Chủ tịch Lê Đức Anh đã chỉ đạo toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội cũng như đối với an ninh quốc phòng và công tác xây dựng Đản . Những ý kiến của Chủ tịch đã mở rộng tầm nhìn, gợi mở hướng đi cho địa phương. Với tôi, qua những lần gần gũi, trực tiếp làm việc với đồng chí Lê Đức Anh đều để lại những ấn tượng sâu sắc. Khi là vị tướng, đồng chí luôn thể hiện sự quan tâm và nắm vững thực tế chiến trường. Không đơn thuần chỉ đạo về quân sự mà Đại tướng rất quan tâm chỉ đạo các mặt chính trị, công tác xây dựng Đảng, công tác cán bộ. Khi là Chủ tịch nước, đồng chí nắm bắt rất nhanh những vấn đề kinh tế – xã hội tại địa phương, đồng thời chỉ đạo rất chính xác công tác an ninh quốc phòng, kết hợp giữa phát triển kinh tế với phòng thủ đất nước. Nhưng ấn tượng sâu hơn cả chính là thái độ sâu sát, biết lắng nghe và gợi mở như một người anh cả rất gần gũi và thân thương. Chúng tôi cảm nhận được sự gần gũi, thương yêu và trách nhiệm của một đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta đối với anh em cán bộ, với một chiến trường, một địa phương.
