Anh là người sống có trước có sau

Tôi đã viết khoảng vài trăm trang xung quanh anh Lê Đức Anh. Đấy là chưa kể những chuyện liên quan tới đại đội của chúng tôi được thành lập từ hôm đầu, rồi đến Chi đội 1, đến Trung đoàn 303 và 301. Cái khúc đó là năm 1945. Tôi ba năm với anh ấy! Nhưng đến giải phóng 1975 hai anh em gặp nhau luôn. Chúng tôi cũng thường xuyên trao đổi thư từ rất thân thiết.

Anh Lê Đức Anh là người sống có trước có sau, trên tình cảm bạn chiến đấu. Nói tóm lại là anh rất chịu khó nghe, và khi thấy đúng thì anh biến thành nhận thức của mình. Lúc đó, giữa năm 1947, anh làm Chính trị viên chi đội. Trước khi về đại đội, chúng tôi là bộ đội khung của Khu 7 mà anh Lê Đức Anh là người có công trong việc xây dựng thành lập đại đội mà nòng cốt là công nhân cao su, vào khoảng 1942-1943 kết hợp với bên Thuận Lợi, Phú Riềng. Tôi lúc đó chỉ là chỉ huy trung đội, sau nhập vào đơn vị của Thuận Lợi rồi Hớn Quản, Xa Cam, Xa Cát của anh Lê Đức Anh.

Sách Bảo vệ, xây dựng và đổi mới đất nước

Đến ít ngày sau, vào khoảng 20-12-1945, địch đánh vào chiến khu Thuận Lợi, mà sau này là chiến khu Đ. Có thể nói tiền thân của chiến khu Đ là chiến khu Thuận Lợi của ông Vũ Đức, ông có rất nhiều công xây dựng chiến khu này.

Địch tấn công từ nhiều phía – từ Bà Rá tấn sang, từ Khổng Lợi vượt sông Bé đánh tới. Rồi, đặc biệt có một cánh quân từ Buôn Ma Thuột xuống. Bọn tôi lúc đó được lệnh của ông Bình là rút từ Thuận Lợi về giữ chiến khu Tân Uyên, tức là Khu 7 Tân Uyên, chiến khu của ông Nguyễn Bình. Chúng tôi mới họp nhau lại, trong đó có tăng cường một số bộ đội của Chi đội 1, lúc bấy giờ của Huỳnh Kim Trường có khoảng một trung đội, có một trung đội của Chi đội 10 của Huỳnh Văn Nghệ tập họp lại, và chúng tôi có một đại đội khoảng 500 người, trong đó lực lượng của anh Lê Đức Anh có 3 cây súng lớn, 1 khẩu 13,2 ly, 1 khẩu 12,7 ly và 7 – 8 khẩu trung liên Brem hay Fm gì đó … Phải nói rằng với những cán bộ cũ anh Lê Đức Anh nhớ lâu lắm, anh ra ngoài Hà Nội xin cho anh Nghiệp tiếp tục được công tác không nghỉ hưu, anh Anh là người rất tình nghĩa. Chẳng hạn chuyện tìm mộ anh Lê Danh Các, Đại đội trưởng đầu tiên của Chi đội 1 cũng vậy, anh nhắc tôi bao lần đi tìm, cuối cùng cũng tìm được.

Đầu tháng 12-1945, đánh trận phục kích quân địch cơ động từ Buôn Ma Thuột đến chiến khu Thuận Lợi. Chúng tôi tập hợp tất cả khoảng 800 người. Đây là trận đánh phục kích quân Pháp đầu tiên của Nam Bộ. Khi đó địch đổ bộ vào Nha Trang rồi chiếm Buôn Ma Thuột, cả binh đoàn Lơcléc xuống đánh chiến khu Thuận Lợi, cho nên có thể nói đây là một trận đánh rất thành công. Cho nên người ta cứ đồn thổi là ông Nguyễn Bình định bắt ông Lê Đức Anh vì bỏ Thuận Lợi, nhưng thực chất là không phải, mà tôi biết chắc chắn rằng trận Thuận Lợi địch thiệt hại rất lớn. Chúng tôi đánh từ sáng đến chiều. Anh em dũng cảm lắm, có những anh trèo lên cây ném lựu đạn xuống, cuối cùng địch hùng hổ như vậy phải rút chạy về phía sau, ba ngày sau mới dám tiến công trở lại, còn ta ba ngày có điều kiện cơ động lực lượng: cánh quân Nam Tiến của ông Minh thì hành quân ra hướng Nha Trang, cánh ông Vũ Đức thì rút về Khu 8, còn đơn vị chúng tôi thì kéo quân về để bảo vệ tổng hành dinh của ông Nguyễn Bình.

Chúng tôi về Tân Uyên tức Bình Mỹ, có nhiều lực lượng lắm, chúng tôi chỉ là một lực lượng bảo vệ khung gọi là Bình Mỹ phía Suối Cầu, chặn địch từ đường 13 vào, đi Bến Cát rẽ bên phải rồi đi chỗ Phú Hoà vào. Chúng tôi chỉ bảo vệ một mặt phía bắc. Còn phía Tân Uyên từ Đồng Nai, rồi Thủ Dầu Một vào, hai ba phía kia mà. Lúc đó là sau Tết, vào tháng 1-1946.

Rồi sau đó, địch dùng cả hải, lục, không quân để đánh Tân Uyên. Mình chưa kịp xây dựng thành trận địa, mà địch đánh từ sáng đến chiều, một cánh quân địch từ Thủ Dầu Một đánh quặp từ phía sau lưng chúng tôi. Khi chúng tôi về Làng An thì quân địch biết được lực lượng này là Quân khu bộ nên binh đoàn Mũ đó cứ bám theo đánh suốt. Đánh xong Tân Uyên, một tháng sau nó đánh Làng An, cách Tân Uyên dọc theo sông Đồng Nai khoảng 10 km. Khi địch đánh Làng An, chúng tôi lại rút lên 10 km nữa, đến Thường Lang địch lại đánh. Hành quân cả đêm tới sáng sớm hôm đó, đói quá, tôi và anh Anh mua được hai bát phở, chưa kịp ăn thì quần chúng đã tới, tiếng súng nổ rất rát. Hai chúng tôi chạy ra tổ chức đánh chặn chỗ cầu ông Cộ để Quân khu bộ của ông Bình rút về An Thành, bên kia sông Sài Gòn được an toàn. Sau trận đó ông Nguyễn Bình thưởng cho anh Lê Đức Anh năm trăm đồng tiền Đông Dương.

Lúc đó chuyện này xảy ra: Ông Bình chủ trương thương lượng với Pháp trên một chiếc tàu của Pháp trên sông Đồng Nai. Ông Bình cũng không trực tiếp đi thương lượng mà giao cho ông Phạm Thiều (người Diễn Châu, lúc đó là Chủ nhiệm Chính trị, sau này là Giáo sư, Chủ tịch Chợ Lớn) làm Trưởng đoàn, Huỳnh Văn Nghệ làm Phó đoàn. Có hai người là anh Anh và Trần Xuân Độ (là Chính uỷ Khu 7) không đồng ý với ông Bình: mình là địa phương không được tự ý thương lượng với Pháp, cấp chính phủ mới có quyền thương lượng. Nay mình tự ý, bọn xấu nó sẽ loan tin Việt Minh có hai chính phủ.

Ông Bình lại dùng Võ Bá Nhạ, nguyên chủ cao su làm Chánh Văn phòng. Vì anh Lê Đức Anh biết rõ người này ở Thủ Dầu Một là tư sản, cơ hội lắm. Nó cũng rất biết là có anh Anh ở đây thì nó không làm ăn gì được. Nó mới xúi ông Bình trị anh Anh. Nhưng Lâm Thái Hoà làm Tham mưu trưởng cho ông Bình thì thân tôi, phi ngựa ra nói: – Tao thấy ông Bình ký giấy bắt Lê Đức Anh rồi đấy. Tôi hỏi “Vậy à, lý do gì?”. “Tao không biết – nhưng mà ký rồi”. Lập tức tôi tới gặp Lê Đức Anh, lúc đó đã 6 giờ chiều rồi, mới bảo: – Này ông, chuyện gì để ông Bình bắt. Ký lệnh rồi đấy, tay Hoà nói với tôi là ông Bình ký rồi đấy. Anh Anh đứng suy nghĩ, cuối cùng anh mới mượn được cái xe bò của một ông già có hai con bò, từ chỗ chúng tôi đến khu bộ chỗ ông Bình chừng hơn 5 cây số đường rừng. Anh đi từ 7 giờ đến 9 giờ thì về, và anh nói với tôi: – Ông Bình bảo là: “Đúng! Tôi có lệnh bắt anh thật, nhưng bây giờ đã lên đây thì về làm việc, tôi không bắt nữa”. Thế mới thấy là lúc bấy giờ anh Anh chỉ hơn tôi 5 tuổi, anh 25 còn tôi 20; vậy mà anh nắm được đặc tính của Nguyễn Bình là “Giang hồ lãng tử, anh hùng cá nhân”. Nhưng anh Anh có một cái tốt là anh im lặng, coi như chuyện đã qua.

Tôi thấy anh Anh hơn người ở chỗ hai lần tôi nói như thế, mà anh lại nói: “Ừ! Hai lần anh ấy định bắt tôi như thế, nhưng tôi chẳng thù hận gì anh ấy cả, mà tôi cứu anh ấy ba lần”. Trường hợp nào nữa thì các anh tìm hiểu thêm, nhưng tôi kể ở trên cũng đủ ba lần anh ấy đánh giải vây cho ông Bình rồi.

Thời đó ăn ở cực khổ, lúc rảnh chúng tôi vẫn ngồi bắt con ghẻ cho nhau, ghẻ kềnh ghẻ càng. Lúc ngồi bắt cái ghẻ, anh nói với tôi: “Tôi đang học năm thứ tư ở Huế thì được kết nạp Đảng, tôi là học trò”. Tức là năm 1937 anh ấy được giác ngộ, năm 1938 kết nạp Đảng. Lúc ngồi bắt ghẻ cho nhau, anh ấy nói chuyện chơi thế thôi, chứ có phải nói để làm Chủ tịch nước như bây giờ đâu. Nên giờ tôi nhớ thì nói lại để bảo vệ cái đúng cho anh ấy.

Tôi biết anh từ tháng 12-1945, cho tới tháng 6-1946, lúc đó đã có chỉ thị giải tán Đảng rút vào hoạt động bí mật. Ở trong Nam từ tháng 12-1945 đến tháng 6-1946, phải đến nửa năm không hoạt động gì. Tôi lúc đó cũng chưa là đảng viên, nhưng tôi được biết anh Lê Đức Anh là Tỉnh uỷ viên của Thủ Dầu Một. Còn tôi mãi sau này mới được anh Lê Đức Anh chuẩn y kết nạp vào Đảng, rồi rèn luyện phấn đấu là Huyện uỷ viên của hai huyện Hớn Quản và Lộc Ninh, tức là Bình Long và Long Định. Giờ Bình Long thuộc Thủ Dầu Một, còn Long Định lại thuộc Bình Phước …

Tôi nghĩ, Đảng ta đào tạo được một người mà từ cán bộ đại đội, không vượt qua cấp nào, cứ tuần tự từng bậc mà lên, lăn lộn suốt cả ba cuộc trường chinh: đánh Pháp, đánh Mỹ, đánh Pôn Pốt, rồi được tín nhiệm bầu lên cương vị cao nhất như anh Lê Đức Anh là hiếm.

Tôi đã viết khoảng vài trăm trang xung quanh anh Lê Đức Anh. Đấy là chưa kể những chuyện liên quan tới đại đội của chúng tôi được thành lập từ hôm đầu, rồi đến Chi đội 1, đến Trung đoàn 303 và 301. Cái khúc đó là năm 1945. Tôi ba năm với anh ấy! Nhưng đến giải phóng 1975 hai anh em gặp nhau luôn. Chúng tôi cũng thường xuyên trao đổi thư từ rất thân thiết.

Anh Lê Đức Anh là người sống có trước có sau, trên tình cảm bạn chiến đấu. Nói tóm lại là anh rất chịu khó nghe, và khi thấy đúng thì anh biến thành nhận thức của mình. Lúc đó, giữa năm 1947, anh làm Chính trị viên chi đội. Trước khi về đại đội, chúng tôi là bộ đội khung của Khu 7 mà anh Lê Đức Anh là người có công trong việc xây dựng thành lập đại đội mà nòng cốt là công nhân cao su, vào khoảng 1942-1943 kết hợp với bên Thuận Lợi, Phú Riềng. Tôi lúc đó chỉ là chỉ huy trung đội, sau nhập vào đơn vị của Thuận Lợi rồi Hớn Quản, Xa Cam, Xa Cát của anh Lê Đức Anh.

Sách Bảo vệ, xây dựng và đổi mới đất nước

Đến ít ngày sau, vào khoảng 20-12-1945, địch đánh vào chiến khu Thuận Lợi, mà sau này là chiến khu Đ. Có thể nói tiền thân của chiến khu Đ là chiến khu Thuận Lợi của ông Vũ Đức, ông có rất nhiều công xây dựng chiến khu này.

Địch tấn công từ nhiều phía – từ Bà Rá tấn sang, từ Khổng Lợi vượt sông Bé đánh tới. Rồi, đặc biệt có một cánh quân từ Buôn Ma Thuột xuống. Bọn tôi lúc đó được lệnh của ông Bình là rút từ Thuận Lợi về giữ chiến khu Tân Uyên, tức là Khu 7 Tân Uyên, chiến khu của ông Nguyễn Bình. Chúng tôi mới họp nhau lại, trong đó có tăng cường một số bộ đội của Chi đội 1, lúc bấy giờ của Huỳnh Kim Trường có khoảng một trung đội, có một trung đội của Chi đội 10 của Huỳnh Văn Nghệ tập họp lại, và chúng tôi có một đại đội khoảng 500 người, trong đó lực lượng của anh Lê Đức Anh có 3 cây súng lớn, 1 khẩu 13,2 ly, 1 khẩu 12,7 ly và 7 – 8 khẩu trung liên Brem hay Fm gì đó … Phải nói rằng với những cán bộ cũ anh Lê Đức Anh nhớ lâu lắm, anh ra ngoài Hà Nội xin cho anh Nghiệp tiếp tục được công tác không nghỉ hưu, anh Anh là người rất tình nghĩa. Chẳng hạn chuyện tìm mộ anh Lê Danh Các, Đại đội trưởng đầu tiên của Chi đội 1 cũng vậy, anh nhắc tôi bao lần đi tìm, cuối cùng cũng tìm được.

Đầu tháng 12-1945, đánh trận phục kích quân địch cơ động từ Buôn Ma Thuột đến chiến khu Thuận Lợi. Chúng tôi tập hợp tất cả khoảng 800 người. Đây là trận đánh phục kích quân Pháp đầu tiên của Nam Bộ. Khi đó địch đổ bộ vào Nha Trang rồi chiếm Buôn Ma Thuột, cả binh đoàn Lơcléc xuống đánh chiến khu Thuận Lợi, cho nên có thể nói đây là một trận đánh rất thành công. Cho nên người ta cứ đồn thổi là ông Nguyễn Bình định bắt ông Lê Đức Anh vì bỏ Thuận Lợi, nhưng thực chất là không phải, mà tôi biết chắc chắn rằng trận Thuận Lợi địch thiệt hại rất lớn. Chúng tôi đánh từ sáng đến chiều. Anh em dũng cảm lắm, có những anh trèo lên cây ném lựu đạn xuống, cuối cùng địch hùng hổ như vậy phải rút chạy về phía sau, ba ngày sau mới dám tiến công trở lại, còn ta ba ngày có điều kiện cơ động lực lượng: cánh quân Nam Tiến của ông Minh thì hành quân ra hướng Nha Trang, cánh ông Vũ Đức thì rút về Khu 8, còn đơn vị chúng tôi thì kéo quân về để bảo vệ tổng hành dinh của ông Nguyễn Bình.

Chúng tôi về Tân Uyên tức Bình Mỹ, có nhiều lực lượng lắm, chúng tôi chỉ là một lực lượng bảo vệ khung gọi là Bình Mỹ phía Suối Cầu, chặn địch từ đường 13 vào, đi Bến Cát rẽ bên phải rồi đi chỗ Phú Hoà vào. Chúng tôi chỉ bảo vệ một mặt phía bắc. Còn phía Tân Uyên từ Đồng Nai, rồi Thủ Dầu Một vào, hai ba phía kia mà. Lúc đó là sau Tết, vào tháng 1-1946.

Rồi sau đó, địch dùng cả hải, lục, không quân để đánh Tân Uyên. Mình chưa kịp xây dựng thành trận địa, mà địch đánh từ sáng đến chiều, một cánh quân địch từ Thủ Dầu Một đánh quặp từ phía sau lưng chúng tôi. Khi chúng tôi về Làng An thì quân địch biết được lực lượng này là Quân khu bộ nên binh đoàn Mũ đó cứ bám theo đánh suốt. Đánh xong Tân Uyên, một tháng sau nó đánh Làng An, cách Tân Uyên dọc theo sông Đồng Nai khoảng 10 km. Khi địch đánh Làng An, chúng tôi lại rút lên 10 km nữa, đến Thường Lang địch lại đánh. Hành quân cả đêm tới sáng sớm hôm đó, đói quá, tôi và anh Anh mua được hai bát phở, chưa kịp ăn thì quần chúng đã tới, tiếng súng nổ rất rát. Hai chúng tôi chạy ra tổ chức đánh chặn chỗ cầu ông Cộ để Quân khu bộ của ông Bình rút về An Thành, bên kia sông Sài Gòn được an toàn. Sau trận đó ông Nguyễn Bình thưởng cho anh Lê Đức Anh năm trăm đồng tiền Đông Dương.

Lúc đó chuyện này xảy ra: Ông Bình chủ trương thương lượng với Pháp trên một chiếc tàu của Pháp trên sông Đồng Nai. Ông Bình cũng không trực tiếp đi thương lượng mà giao cho ông Phạm Thiều (người Diễn Châu, lúc đó là Chủ nhiệm Chính trị, sau này là Giáo sư, Chủ tịch Chợ Lớn) làm Trưởng đoàn, Huỳnh Văn Nghệ làm Phó đoàn. Có hai người là anh Anh và Trần Xuân Độ (là Chính uỷ Khu 7) không đồng ý với ông Bình: mình là địa phương không được tự ý thương lượng với Pháp, cấp chính phủ mới có quyền thương lượng. Nay mình tự ý, bọn xấu nó sẽ loan tin Việt Minh có hai chính phủ.

Ông Bình lại dùng Võ Bá Nhạ, nguyên chủ cao su làm Chánh Văn phòng. Vì anh Lê Đức Anh biết rõ người này ở Thủ Dầu Một là tư sản, cơ hội lắm. Nó cũng rất biết là có anh Anh ở đây thì nó không làm ăn gì được. Nó mới xúi ông Bình trị anh Anh. Nhưng Lâm Thái Hoà làm Tham mưu trưởng cho ông Bình thì thân tôi, phi ngựa ra nói: – Tao thấy ông Bình ký giấy bắt Lê Đức Anh rồi đấy. Tôi hỏi “Vậy à, lý do gì?”. “Tao không biết – nhưng mà ký rồi”. Lập tức tôi tới gặp Lê Đức Anh, lúc đó đã 6 giờ chiều rồi, mới bảo: – Này ông, chuyện gì để ông Bình bắt. Ký lệnh rồi đấy, tay Hoà nói với tôi là ông Bình ký rồi đấy. Anh Anh đứng suy nghĩ, cuối cùng anh mới mượn được cái xe bò của một ông già có hai con bò, từ chỗ chúng tôi đến khu bộ chỗ ông Bình chừng hơn 5 cây số đường rừng. Anh đi từ 7 giờ đến 9 giờ thì về, và anh nói với tôi: – Ông Bình bảo là: “Đúng! Tôi có lệnh bắt anh thật, nhưng bây giờ đã lên đây thì về làm việc, tôi không bắt nữa”. Thế mới thấy là lúc bấy giờ anh Anh chỉ hơn tôi 5 tuổi, anh 25 còn tôi 20; vậy mà anh nắm được đặc tính của Nguyễn Bình là “Giang hồ lãng tử, anh hùng cá nhân”. Nhưng anh Anh có một cái tốt là anh im lặng, coi như chuyện đã qua.

Tôi thấy anh Anh hơn người ở chỗ hai lần tôi nói như thế, mà anh lại nói: “Ừ! Hai lần anh ấy định bắt tôi như thế, nhưng tôi chẳng thù hận gì anh ấy cả, mà tôi cứu anh ấy ba lần”. Trường hợp nào nữa thì các anh tìm hiểu thêm, nhưng tôi kể ở trên cũng đủ ba lần anh ấy đánh giải vây cho ông Bình rồi.

Thời đó ăn ở cực khổ, lúc rảnh chúng tôi vẫn ngồi bắt con ghẻ cho nhau, ghẻ kềnh ghẻ càng. Lúc ngồi bắt cái ghẻ, anh nói với tôi: “Tôi đang học năm thứ tư ở Huế thì được kết nạp Đảng, tôi là học trò”. Tức là năm 1937 anh ấy được giác ngộ, năm 1938 kết nạp Đảng. Lúc ngồi bắt ghẻ cho nhau, anh ấy nói chuyện chơi thế thôi, chứ có phải nói để làm Chủ tịch nước như bây giờ đâu. Nên giờ tôi nhớ thì nói lại để bảo vệ cái đúng cho anh ấy.

Tôi biết anh từ tháng 12-1945, cho tới tháng 6-1946, lúc đó đã có chỉ thị giải tán Đảng rút vào hoạt động bí mật. Ở trong Nam từ tháng 12-1945 đến tháng 6-1946, phải đến nửa năm không hoạt động gì. Tôi lúc đó cũng chưa là đảng viên, nhưng tôi được biết anh Lê Đức Anh là Tỉnh uỷ viên của Thủ Dầu Một. Còn tôi mãi sau này mới được anh Lê Đức Anh chuẩn y kết nạp vào Đảng, rồi rèn luyện phấn đấu là Huyện uỷ viên của hai huyện Hớn Quản và Lộc Ninh, tức là Bình Long và Long Định. Giờ Bình Long thuộc Thủ Dầu Một, còn Long Định lại thuộc Bình Phước …

Tôi nghĩ, Đảng ta đào tạo được một người mà từ cán bộ đại đội, không vượt qua cấp nào, cứ tuần tự từng bậc mà lên, lăn lộn suốt cả ba cuộc trường chinh: đánh Pháp, đánh Mỹ, đánh Pôn Pốt, rồi được tín nhiệm bầu lên cương vị cao nhất như anh Lê Đức Anh là hiếm.

Scroll to Top