Anh là người anh cả, người thầy của tôi

Tôi là Đỗ Quang Minh (tức Đỗ Văn Bổ), sinh ngày 11-10-1932 tại xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Nhập ngũ ngày 5-2-1947 tại Chi đội 1 – Thủ Dầu Một.

Anh Sáu Nam là người tôi rất kính mến. Lần đầu tiên gặp anh khoảng tháng 6-1947. Lúc đó tôi mới nhập ngũ vài tháng, làm liên lạc viên Ban liên lạc Chi đội 1 Thủ Dầu Một. Tôi công tác tại Trạm Giồng Sao, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, thành phố Sài Gòn. Kỳ đó, anh Sáu trên đường công tác qua trạm, anh bị ốm, không ăn cơm được, tôi đi tìm mua xoài chín cho anh và anh rất mến tôi. Từ đó, anh có ý với Ban liên lạc Chi đội 1 xin tôi về đi công tác gần anh và làm liên lạc cho anh. Anh Nguyễn Quang Sanh, Phó Ban liên lạc là đảng viên Đảng Cộng sản, khuyên tôi: “Em nên về công tác với anh Sáu, anh sẽ dìu dắt, giáo dục em tiến bộ, anh Sáu là đảng viên Cộng sản, nay ảnh lên chi đội làm Chánh trị viên”. Tôi đồng ý và cuối năm 1947 tôi về Văn phòng Chi đội 1 gặp anh. Sau một thời gian, khoảng tháng 3-1948, anh gởi tôi đi học lớp cán bộ dân quân tỉnh khoá Lê Danh Các; đến tháng 6-1948 mãn khoá tôi thi đạt điểm cao nhất, anh rất mừng.

Thư viện Đại tướng Lê Đức Anh, Lê Đức Anh

Được ít hôm anh lại gởi tôi ra Bà Rịa học Trường Quân chính Khu 7, khoá Phan Châu Trinh, nhưng tôi mới 16 tuổi nên không được học mà ở lại công tác và làm Thiếu sinh quân của nhà trường. Đến tháng 10-1948, tôi mới được về đi công tác với anh, lúc này anh là Tham mưu trưởng Khu 7, ở chiến khu Đ. Tôi làm liên lạc cho anh, thường xuyên mang thơ của anh đưa tận tay Khu trưởng Huỳnh Văn Nghệ, Chánh uỷ Nguyễn Văn Trí, hoặc các cán bộ lãnh đạo các phòng, ban trong khu, các anh ở cấp uỷ, Uỷ ban của hai tỉnh Biên Hoài, Thủ Dầu Một và các anh trong ban chỉ huy các trung đoàn 301-310… Anh đi công tác ở đâu tôi cũng được đi với anh, làm liên lạc, còn bảo vệ thì có anh Đức, anh Vị, anh Xờn là những chiến sĩ rất quý mến anh; các anh này, gốc là phu cao su, rất hiền lành, chịu khó và rất gan dạ – anh Sáu rất thương. Những lần đi công tác, nghiên cứu chiến trường hoặc đi hội họp với cán bộ cao cấp, tôi mang cây cácbin ba xếp, vừa bảo vệ vừa làm liên lạc đưa thơ cho anh. Có những lần đi xa như từ chiến khu Đ xuống sông Lòng Tàu, Bà Rịa nghiên cứu đánh tàu, hay đi lên bắc Bến Cát nghiên cứu đánh xe lửa đoạn Bàu Bàng – Trà Nhớt. Và thường xuyên đi công tác ở các tỉnh miền Đông, vượt qua nhiều quốc lộ, tỉnh lộ, nhiều vùng địch tạm chiếm, có lần đụng địch rất nguy hiểm… Đi sát đồn bốt giặc giữa ban ngày, có những lúc chịu đói, chịu khát, làm bộ đội thời đó rất gian khổ.

Tôi còn nhớ về chuyện đôi guốc… Thời đó phần lớn là đi chân không, ai may mắn là có đôi guốc, đôi bata hoặc đôi dép dạ nhưng đi vài lần lội nước, băng rừng rồi cũng hỏng. Dép lốp xe (dép râu) hồi đó chưa có. Lần vượt tỉnh lộ 16, gần thị trấn Tân Uyên, đêm đó sắp qua đường thì phát hiện có địchphục kích, bám đường theo trinh sát thì chỗ nào cũng đụng địch. Trong đoàn đi trên 10 người có anh Nguyễn Văn Trí, Chánh uỷ Khu và anh Sáu, trong tụi tôi có anh Mai Chương cán bộ quân sự rất trẻ, xông xáo (bây giờ là thiếu tướng), trinh sát cắt đường. Trời tối đen như mực, ven đường là khu rừng chồi và có những khoảng trống. Phía trước có nhiều tiếng động, thỉnh thoảng có ánh đèn pin, đúng là địch, không vượt qua đường được, chúng cách độ 100m nên chúng tôi phải nằm ém lại cho chúng rút mới qua đường. Đến khuya, có anh mệt quá nằm ngủ thiếp dưới gốc cây. Tôi hồi hộp không sao ngủ được, bỗng nghe tiếng chân giẫm lên lá khô ngày càng gần, nghe kỹ là tiếng giầy của địch. Tôi bò lại lay anh Sáu và nói nhỏ: “Địch đến!”. Anh Sáu bình tĩnh ngồi dậy hỏi ở đâu? Và nhanh chóng tay thu với đôi guốc, xắc cốt thì đã mang sẵn trong mình, anh lùi lại vài chục mét. Còn bọn chúng thì rẽ hướng khác và rồi có lẽ là chúng gom lại ra đường để rút về bốt. Anh Mai Chương nghe ngóng nhưng cũng phải đợi trời sáng leo lên cây quan sát bên kia đường và bốn phía kỹ rồi mới vượt lộ, tiếp tục hành quân. Về đến Vĩnh Lợi quá 10 giờ, bụng ai cũng đói và cổ khát khô, nói không ra tiếng nhưng tiếng guốc anh Sáu Tham mưu trưởng vẫn lét xét trên đường dưới trời nắng trưa…

Cũng vẫn là chuyện đôi guốc, đêm hôm ấy từ An Điền, Bến Cát qua sông Thị Tính, về Vĩnh Tân, đến Hố Le, gần Quốc lộ 13 thì đụng địch; hai bên nổ súng rào rào, địch ít, ta đông hơn, chúng vừa bắn vừa chạy, tôi và anh Sáu vượt qua bụi tre gai nằm nép dưới đường rãnh xe bò tránh đạn. Anh Ba Lò Rèn chỉ huy đoàn xông lên, chỉ huy tiếng la vang vang… Khi củng cố lại đội hình không ai sao cả, nhưng anh Ba thì vướng cây văng rớt khẩu rouleau (súng lục) phải hoay hoay tìm, còn anh Sáu thì tay vẫn xách đôi guốc, vì nếu để mất nó thì không chịu nổi gai mắc cổ và sỏi cơm trên đất nầy…

Hồi anh Năm Thi làm Trung đoàn trưởng 301, anh Sáu là Chánh trị viên, hai anh thường mặc bộ bà ba đen, đội nón cối, cổ quàng khăn rằn xanh và chân mang guốc. Anh Năm Thi thì có lúc thêm cây ba ton. Đến khi về làm Tham mưu trưởng Khu, anh Sáu vẫn ăn mặc và đi guốc như thế, đi công tác khắp miền Đông, quần áo của anh chỉ bộ nghiêm bộ nghĩ, có lúc giặt trước phơi ở bờ suối, tắm xong cho quần áo khô, một chiếc áo len cũ dài tay màu nâu và một chiếc xắc cốt da đựng tài liệu. Cuộc sống thiếu thốn, giản dị như anh em, cũng cơm rau khoai sắn, nhưng cường độ làm việc và học tập của anh thật đặc biệt, hoàn cảnh nào cũng thấy anh đọc sách, nghiên cứu tài liệu, làm việc và học tập, anh rất tiết kiệm thời gian, ở chiến khu anh chong đèn đọc sách, tôi ngủ một giấc giật mình thức dậy thấy anh vẫn còn ngồi bên ngọn đèn dầu; có lúc anh bị ốm nằm dưỡng bệnh nhưng bên cạnh cũng có sách và tài liệu. Khi làm việc và học tập, anh rất chăm chú tập trung, chúng tôi làm gì cũng nhè nhẹ không dám làm khua động, ảnh hưởng tới anh.

Giữa năm 1949, anh được điều về làm Tham mưu trưởng Khu 8 và anh cho tôi vào học Trường thiếu sinh quân, Trung đoàn 312. Đến cuối năm 1949, anh lại trở về làm Tham mưu trưởng Khu Sài Gòn – Chợ Lớn, tôi cũng được trở về công tác tại Ban Văn thư Phòng Tham mưu, lại được gần gũi anh. Khi cần tôi làm liên lạc mang thơ cho anh, đưa tận tay anh Trần Văn Trà, anh Tô Ký, anh Năm Thi bên Thủ Biên và các anhlãnh đạo các cơ quan trong khu. Thời gian này tôi đã 18 tuổi, được kết nạp vào Đảng Cộng sản và anh cũng là đại biểu đảng cấp trên chất vấn tôi hai câu trong lễ kết nạp hồi đó. Một câu hỏi về động cơ tôi vào Đảng, một câu về sự trung thành và hy sinh chiến đấu suốt đời vì Đảng mà tôi còn nhớ mãi tới bây giờ.

Tôi sớm được giác ngộ vào Đảng cũng do bản thân lớn lên trên quê hương của Nam Kỳ Khởi nghĩa, có truyền thống cách mạng, thoát ly gia đình vào bộ đội, may mắn lại được gần anh Sáu bồi dưỡng, giáo dục từ tuổi niên thiếu. Anh thường xuyên kể cho tôi nghe những gương người tốt, hiếu học, dạy bảo tôi điều hay lẽ phải, nhất là về rèn luyện phẩm chất đạo đức, tinh thần ý chí cách mạng, sức khoẻ. Thực tế anh tạo điều kiện cho tôi học tập và rất quan tâm đến sự tiến bộ của tôi. Năm 1950, khoảng tháng 6, anh gởi tôi đi học Trường Trung học kháng chiến ở Cà Mau, sau đó tôi học lớp vô tuyến điện. Năm 1951, trở về gặp lại anh, lúc đó anh là Tham mưu phó Nam Bộ. Năm 1954, đình chiến anh lại vào Nam với nhiệm vụ trong Đoàn sĩ quan Liên hợp quân sự, anh em lại gặp nhau. Tôi phụ trách đài vô tuyến điện cho đoàn sĩ quan Liên hợp quân sự, phục vụ cho chuyển quân về khu tập kết tạm thời đóng tại Bào Trai – Đức Hoà và cùng anh trong nhóm di chuyển cuối cùng của quân ta vượt qua sông Vàm Cỏ Đông vì gần đến 12 giờ đêm phải đến Vàm Cỏ Tây theo quy định. Tôi còn nhớ đêm đó, hai anh em nằm ngủ chung, mùng cá nhân chỉ có một chiếc mà muỗi ở Vàm Cỏ Tây thì nhiều, kêu như sáo thổi, nó cắn hai bên không tài nào ngủ được. Anh bảo thôi chú ngủ, mình đi. Anh đi ra sân, đi tới đi lui cho muỗi khỏi cắn. Sau đó một lúc, tôi lại ra thay anh đi tới đi lui cho anhvào mùng nằm nghỉ, cứ như thế thay phiên nhau cho tới sáng.

Sau đó, quân ta lần lượt hành quân về kênh Nguyễn Văn Tiếp (Đồng Tháp Mười). Đóng quân dọc theo bờ kênh giữa Mỹ An và Ba Sao. Lúc đó bà con ở Sài Gòn và các tỉnh vào thăm anh em bộ đội, và từng gia đình thăm con cháu đông vui, nhộn nhịp. Chị Sáu và cháu Bé Ba cũng về đây sum họp, ở nhờ nhà dân trên bờ kênh, tôi thường ngày tới chơi như người trong nhà. Ra Bắc, thỉnh thoảng tôi có ra Hà Nội, học tập, công tác hoặc nghỉ phép, tôi đều đến thăm anh ở Cửa Đông (lúc đó tôi ở Sư đoàn 330, Thanh Hoá). Năm 1961, tôi về Nam Quân khu miền Đông làm công tác thông tin. Khi có dịp về Miền họp, tôi cũng đến thăm anh Sáu khi điều kiện cho phép. Cũng như sau này, khi hoà bình lập lại, mỗi lần anh Sáu về Đồng Nai công tác, tôi đều đến thăm. Mỗi lần gặp anh là anh dặn dò khuyên bảo, học tập, rèn luyện phẩm chất đạo đức để phục vụ Đảng, nhân dân tốt hơn. Trong chiến đấu cũng như trong hoà bình, anh rất bận nhưng mỗi lần tôi gởi thơ thăm anh thì anh đều gởi thơ trả lời. Tình cảm đối với anh Sáu, tôi coi anh như người anh cả trong gia đình ruột thịt, tôi rất kính mến anh, những lời dạy bảo của anh, công ơn dìu dắt của anh, hình ảnh vui vẻ hiền hậu và những kỷ niệm trong thời gian được gần anh, tôi không bao giờ quên được! Anh là người anh cả, người thầy, người đồng chí của tôi!

Scroll to Top