Anh là người phất cờ búa liềm, lãnh đạo công nhân cao su tham gia khởi nghĩa giành chính quyền

Tôi biết anh Sáu Nam (Lê Đức Anh) từ Cách mạng tháng Tám 1945. Lúc bấy giờ tôi làm cu ly ở Sở cao su Quản Lợi, huyện Hớn Quản, tỉnh Thủ Dầu Một, với chức ban đầu là chạy giấy (loong toong) tại sở sóc gòn, sau họ điều về văn phòng Sở làm chân gác điện thoại, rồi phó thơ ký, thơ ký làm sổ phát tiền lương cho công nhân và thợ, thầy …

Vì tôi là cầu thủ bóng đá có tiếng nên Sở sử dụng tôi vào đội đá banh. Cuối năm 1944, đầu 1945 tại Sở có phong trào bình dân học vụ để xoá mù chữ cho công nhân do các anh đảng viên cộng sản mà tôi được biết như: Khương, Phì, Hổ, Bổn phụ trách. Đó là tổ chức biến tướng, nguỵ trang che mắt địch để chờ thời cơ giành chính quyền ở Sở. Tôi là phần tử tích cực tham gia vào tổ chức ấy nên khi giành được chính quyền ở sở cao su, được các anh chỉ định là Uỷ viên quân sự, phụ trách phá hoại Sở. Mấy ngày sau khi Cách mạng tháng Tám thành công , anh Lê Đức Anh từ sở Lộc Ninh qua sở Quản Lợi nói chuyện. Hôm đó, chúng tôi được phổ biến là có cấp trên về nói chuyện thăm bà con và mừng cách mạng thành công. Tôi còn nhớ như in lúc ấy trên sân khấu Nhà hát Quản Lợi, anh Lê Đức Anh, tay phải cầm cờ đỏ sao vàng lớn, nghiêm chỉnh nói rất dõng dạc:

Thư viện Đại tướng Lê Đức Anh, Lê Đức Anh

“Thưa bà con, anh chị em công nhân! Hôm nay tôi được thay mặt cho Nhà nước Cách mạng đến thăm và chúc mừng sở đã giành được chánh quyền. Bà con, anh chị em công nhân nay phải thật sự đoàn kết lại để chiến đấu bảo vệ chánh quyền vừa giành được. Giặc Pháp hiện nay mạnh, ta còn non yếu, nhưng rồi ta phấn đấu sẽ mạnh lên cả về người và vũ khí. Ta đánh với Pháp bằng cách nào? Bằng chiến tranh du kích! Ta sẽ phá cầu, phá đường, chặt cây để ngăn cản giao thông địch, quyết không hợp tác với chúng. Mọi người đều đồng lòng đoàn kết diệt giặc, ta sẽ thắng, địch sẽ thua … “.

Sau đó, tôi được đi dự lớp học Quân chính Hồ Chí Minh lần thứ nhất ở An Sơn, Thủ Dầu Một, do các anh Xuân Diệu, Mạnh Liên, Quang Phục phụ trách. Khi học tới bài “Chiến tranh du kích” thì tôi thấy bài học không khác mấy so với những lời mà anh Lê Đức Anh đã nói tại Nhà hát sở cao su hôm trước. Bởi vậy, tôi nghĩ rằng đồng chí Lê Đức Anh phải là cán bộ lãnh đạo của Đảng thì mới có những nhận thức như vậy để diễn đạt cho đồng bào và công nhân trong buổi đầu cách mạng thành công. Gần đây khi tôi được đọc cuốn sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Dương thì mới vui mừng thấy rằng những ý nghĩ, nhận định từ lâu của tôi đã được minh chứng là hoàn toàn là đúng. Tại trang 98, dòng thứ 8 từ dưới lên có ghi: “Đầu năm 1944, Tỉnh uỷ Thủ Dầu Một tổ chức hội nghị công tác. Tham gia hội nghị có các đồng chí Nguyễn Văn Thi, Nguyễn Văn Trung, và một Tỉnh uỷ viên mới bổ sung là Lê Đức Anh. Chủ trì hội nghị là đồng chí Văn Công Khai, Bí thư Tỉnh uỷ. Hội nghị bàn các biện pháp thực hiện Nghị quyết Xứ uỷ và tổ chức Hội Cứu quốc trong nông dân, thanh niên, phụ nữ. “Tại trang 99, 3 dòng đầu có ghi: “Tháng 2-1944 ở Lộc Ninh, đồng chí Lê Đức Anh lập nhóm quần chúng trung kiên trong công nhân, giáo viên, đồng bào dân tộc, có khoảng tám người làm nòng cốt…”.

Sau khi ra trường, tôi về công tác và chiến đấu trong đội hình của Chi đội 1 do các anh Huỳnh Kim Trường làm Chi đội trưởng, Lê Đức Anh làm Chính trị viên, Nguyễn Văn Thi làm Chi đội phó. Lúc này khoảng năm 1946-1947, chính anh Lê Đức Anh cũng góp sức cùng với anh Nguyễn Văn Thi chỉ đạo tổ chức trận đánh diệt một đơn vị lính ngay tại khu Bình Quới Tây mà ta gọi là “chiến khu ma” do Thủ tướng bù nhìn Lê Văn Hoạch dựng lên. Trận này ta đã gài cả gần 100 cán bộ chiến sĩ của ta vào trong lòng địch để thực hiện nội công, ngoại kích”. Những ngày ở Chi đội 1, tôi nhận ra anh Lê Đức Anh là người kiên quyết, thẳng thắn và trung thực, làm việc chí công vô tư, không bênh ai, bỏ ai. Với tinh thần ấy, anh đã góp phần lớn vào chiến thắng của Chi đội trong các trận đánh chống quân địch càn quét và các trận đánh giao thông trên đường 13.

Khi tập kết ra Bắc, tôi với anh ở xa nhau nên ít có dịp gặp anh. Tôi ở tận Nông Cống, Thanh Hoá, còn anh ở Bộ tổng Tham mưu, ngoài Hà Nội.

Đến tháng 5-1961, tôi đi trong đoàn cán bộ vào miền Nam. Vào tới nơi tôi được Ban quân sự miền Đông giao nhiệm làm Tỉnh đội trưởng Phước Thành (gồm một phần Biên Hoà, một phần Thủ Dầu Một) từ năm 1961 cho đến 1966. Sau đó anh Sáu Nam vào làm Tham mưu trưởng Miền. Tôi có dịp gặp và làm việc thường xuyên với anh. Anh dặn tôi nhiều về nhiệm vụ công tác quân sự địa phương, cả về đoàn kết nữa. Anh bảo, nếu khó anh cũng cứ làm nhé! Tôi bảo tôi rất sẵn sàng. Bữa đó tôi định ăn cơm với anh Minh. Anh Sáu cho người xuống gọi và nói: “Bữa ni anh là khách của tôi, chứ có phải của anh Minh đâu”; bữa cơm hôm đó có cả anh Hoàng Cầm, Chỉ huy trưởng Sư đoàn 9. Tuy cơm canh cũng chỉ có bí bầu, nhưng thấy tình cảm chân thật của anh, của cấp trên với cán bộ cấp dưới vừa từ chiến trường về.

Cuối năm 1966, tôi được gọi về Bộ chỉ huy Miền gặp anh Lê Đức Anh. Lần này anh giao nhiệm vụ mới cho tôi: “Anh sẽ về làm Tỉnh đội trưởng Long Khánh, vì trước đây anh làm tốt công tác ở Tỉnh đội Phước Thành, nay Miền bổ nhiệm anh về đó. “Anh căn dặn: “Phải đoàn kết nội bộ quân, dân, chính, đảng. Về nhiệm vụ, anh nhớ phải giữ cho được con lộ 15 huyết mạch. “Anh còn nhắc đi nhắc lại nhiều lần là “Miền giao cho anh nhiệm vụ làm Tỉnh đội trưởng Long Khánh, nhưng khi về đến địa phương, vì lý do nào đó, cấp uỷ địa phương yêu cầu anh giữ chức phó thì cũng vui vẻ nhận nhé! “Tôi vui vẻ lên đường, không mảy may tính toán thiệt hơn. Hơn 50 năm rồi nhưng tôi vẫn nhớ. Khoảng một tuần sau, khi vừa về tới căn cứ lại có lệnh gọi lên Bộ chỉ huy Miên. Lúc đó tôi đang bị tiêu chảy, rất mệt. Khi lên, tôi gặp anh Trần Độ, Phó chánh uỷ Miền. Anh Độ bảo: “Giờ anh thôi không về Long Khánh nữa mà nhận chức mới là Chính uỷ Trung đoàn tên lửa nhẹ DKB 724 mà Liên Xô mới giúp ta. Nhiệm vụ chủ yếu của đơn vị binh chủng này là liên tục tổ chức đánh phá vào sân bay quân sự Biên Hoà. Anh làm Tỉnh đội trưởng nhiều năm ở Phước Thành, chiến khu Đ, nên anh quen địa phương, rất thuận lợi cho hoạt động của trung đoàn”. Các anh đưa tôi về làm Chính uỷ, anh Ba Tô làm Trung đoàn trưởng, chúng tôi đã lãnh đạo và chỉ huy trung đoàn lập nhiều thành tích xuất sắc trong hai năm 1967-1968. Tôi làm hai năm, đến năm 1968 tôi bị đau nặng, các anh đưa tôi về bệnh viện Miền, gọi là K71A, nằm điều trị cả tháng trời. Sau khi tôi lành bệnh, cấp trên quyết định tôi ở lại làm Chính uỷ của bệnh viện, hồi đó Giáo sư bác sĩ Nguyễn Thiện Thành, tức anh Ba Nhân làm Viện trưởng. Tháng 5 và 6 1970, Mỹ – nguy mở chiến dịch đánh sang Campuchia. Bệnh viện bị bao vây gần 60 ngày đêm. Cán bộ và chiến sĩ chúng tôi đã cầm súng chiến đấu quyết liệt với quân thù, bảo vệ an toàn và trọn vẹn cả một ngàn thương bệnh binh và hàng trăm bà mẹ, trẻ em. Bệnh viện đã được Bộ Quốc phòng và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam khen thưởng. Tôi nhớ, ngày đó khi tới thăm bệnh viện, anh Lê Đức Anh đã nói vui: ” Nè, các anh nhớ nhiệm vụ chủ yếu của bệnh viện là điều trị và nuôi dưỡng thương bệnh binh, chớ đừng quá hăng say đánh giặc mà lại việc chính đấy nhé! “Chúng tôi cũng vui vẻ đáp lại: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh! Chúng tôi kiên quyết sống chết với quân thù, chiến đấu để bảo vệ thương bệnh binh đó!”.

Giai đoạn tôi được đứng trong Quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn ở Campuchia, tôi thấy rõ một điều là những lúc khó khăn nhất thì anh Lê Đức Anh luôn đi sát cơ sở, bất chấp hiểm nguy, anh thường xuống tận các phum, sóc, làng, bản gặp gỡ người dân để hỏi han tình hình cuộc sống và an ủi động viên, vực dậy tinh thần cách mạng của nhân dân Campuchia đứng lên cùng bộ đội Việt Nam làm tan rã quân Khơme Đỏ, chặn đứng và đập tan âm mưu diệt chủng của chúng, tích cực xây dựng cuộc sống mới. Sau đó tôi về làm Tham mưu trưởng Mặt trận 479. Ngồi cùng anh trên máy bay trực thăng từ Xiêm Riệp về thành phố Hồ Chí Minh, anh luôn nhắc nhở những lúc khó khăn như thế này thì cán bộ phải chịu đi xuống sâu sát với dân. Đi sát và nghe người ta nói mới biết tình hình ta ra sao, địch ra sao; tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của những người dân Khơme hiện đang gặp muôn vàn khó khăn, gian khổ.

Suốt từ kháng chiến chống Pháp đến nay, tôi chưa nghe tai tiếng gì về đức cần kiệm liêm chính của anh.

Buổi anh ở Quân khu 7 chuẩn bị lên Bộ Chính trị, Đảng chủ trương các cán bộ chủ trì tự phê bình và phê bình. Hôm đó tôi phát biểu đầu tiên. Tôi xác định công lao thành tích của anh trước đó và khẳng định anh còn phát triển tiến bộ dài dài về phía trước, nhưng trong đó nói về khuyết nhược điểm của anh là chỉ đạo đơn vị chưa thật toàn diện, cần phải đi sâu nghiên cứu thêm về kinh tế; về cá tính đôi lúc còn nóng nảy nên anh em ít dám gần anh. Cùng với một số ý kiến phê bình của các đồng chí khác, anh tiếp thu với thái độ chân thành và vui vẻ, anh nhận thiếu sót và hứa phấn đấu sửa chữa nghiêm túc.

Năm 1982, tôi cùng với Lưu Phước Hải (tức Lộc), con trai cả của tôi có đến thăm anh. Chúng tôi nhắc lại chuyện năm 1973-1974, lúc quân của nguỵ quyền Nguyễn Văn Thiệu “ráo riết” lấn đất, chiếm dân trên địa bàn Quân khu 9; anh đã cùng Chính uỷ Võ Văn Kiệt lãnh đạo và chỉ huy đánh trả quyết liệt bọn lấn chiếm, bình định, phá hoại Hiệp định Paris . Khi có lệnh trên bảo anh phải kiểm điểm, anh nói: “Để tôi đánh xong thì kiểm điểm luôn một thể. Trước hết phải giữ đất, giữ dân đã!”. Sau đó cả chiến trường, cả Trung ương đều thấy anh đánh trả bọn lật lọng tráo trở, đánh để giữ đất giữ dân, bảo và thi hành Hiệp định là đúng.

Tôi là người được sống, công tác và chiến đấu cùng anh trong một thời gian khá dài – suốt từ giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám 1945, qua kháng chiến chống thực dân Pháp, qua kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đến chiến tranh biên giới Tây – Nam và làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Campuchia nên tôi hiểu biết về anh Sáu Nam khá rõ. Có thể nói ở anh Lê Đức Anh – Sáu Nam, tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư luôn đặt lên hàng đầu. Khiêm tốn, giản dị, ngoan cường và dũng cảm trong xử lý chỉ huy các tình huống phức tạp, anh luôn lo nhiều cho mọi người hơn cho mình. Chúng tôi học ở anh nhiều lắm, nhưng làm được như anh không phải là dễ.

Scroll to Top